Tại Hội thảo “Thực trạng và giải pháp thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” diễn ra ngày 15/7, TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam đánh giá nền kinh tế đang bước vào giai đoạn bản lề để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030.
Theo TS. Lê Minh Nghĩa, dù 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực với GDP tăng 8,18%, lạm phát được kiểm soát, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trên 10%, thu hút FDI và tăng trưởng tín dụng đều khả quan, song chất lượng tăng trưởng vẫn là vấn đề cần quan tâm.
“Tăng trưởng cao đã thực sự đi cùng với tự chủ công nghệ và sự lớn mạnh của doanh nghiệp Việt Nam hay chưa, hay chúng ta vẫn chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào gia công và công nghệ nhập khẩu?”, ông Nghĩa đặt vấn đề.
Theo ông, để đạt mục tiêu năm 2030, Việt Nam cần tập trung vào 4 trụ cột: nâng cao chất lượng tăng trưởng; phát triển khoa học – công nghệ và kinh tế số; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo phải chiếm khoảng 28% GDP, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 55% tăng trưởng, trong khi hiện mới khoảng 47%. Kinh tế số cần đạt tối thiểu 30% GDP nhưng hiện vẫn dưới 20%, còn chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) mới đạt khoảng 0,8% GDP, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 2%.
Đối với khu vực tư nhân, mục tiêu đến năm 2030 là có khoảng 2 triệu doanh nghiệp, đóng góp 55-58% GDP và hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, TS. Lê Minh Nghĩa cho rằng cần tiếp tục cải cách mạnh thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ; định hướng thu hút FDI theo chất lượng, gắn với chuyển giao công nghệ; đồng thời đầu tư dài hạn cho công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cùng quan điểm, GS. TS Nguyễn Quang Thuấn, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cho rằng mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 được đặt ra trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đến tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các rủi ro địa chính trị.

Theo ông, nền tảng tăng trưởng của Việt Nam những năm gần đây là khá tích cực khi giai đoạn 2021-2025 tăng trưởng bình quân khoảng 6,3%/năm, năm 2025 vượt 8% và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì quanh mức 8%.
Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, Việt Nam cần đồng thời đột phá về thể chế, phát triển lực lượng sản xuất mới dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo, phát huy vai trò của kinh tế tư nhân, tăng cường liên kết vùng và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Ở góc nhìn khác, PGS. TS Phạm Thị Túy, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu năm 2030, trước hết cần nhìn thẳng vào vị thế hiện nay của nền kinh tế và khoảng cách phải vượt qua.
Theo bà, Việt Nam vẫn là nước đang phát triển với năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và trình độ công nghệ còn hạn chế. Thu nhập bình quân đầu người hiện khoảng 4.900 USD, chỉ vừa bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao theo phân loại của Ngân hàng Thế giới. Vì vậy, mục tiêu năm 2030 không chỉ đòi hỏi tăng trưởng nhanh mà còn phải cải thiện chất lượng phát triển trên cả phương diện kinh tế, xã hội, con người và môi trường.
Bà cũng lưu ý rằng dù công nghiệp đã có bước phát triển, các ngành công nghệ cao vẫn chủ yếu do doanh nghiệp FDI dẫn dắt, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng lớn. Đây là khoảng trống cần sớm được lấp đầy nếu Việt Nam muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng nền công nghiệp hiện đại.
Theo PGS. TS Phạm Thị Túy, mục tiêu tăng trưởng hai con số và mục tiêu đến năm 2030 vẫn có thể đạt được nếu Việt Nam tiếp tục duy trì quyết tâm cải cách. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất định, điều quan trọng là phải nâng cao năng lực thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế.
“Cải cách thể chế vẫn là yêu cầu cấp thiết, nhưng thách thức lớn hơn là thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và thực thi. Chính sách đúng là điều kiện cần, nhưng hiệu quả triển khai mới là điều kiện đủ”, PGS. TS Phạm Thị Túy nhấn mạnh.
Theo bà, quá trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và thúc đẩy tăng trưởng cần được triển khai theo một chiến lược tổng thể, có sự điều phối thống nhất thay vì thực hiện riêng lẻ ở từng ngành, từng địa phương. Đồng thời, mỗi cơ quan, doanh nghiệp và từng cán bộ cũng cần nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ để tạo sức mạnh cộng hưởng, qua đó biến các mục tiêu phát triển thành kết quả thực chất.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/ts-le-minh-nghia-the-che-cong-nghe-va-kinh-te-tu-nhan-la-chia-khoa-tang-truong-d147643.html.
