Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào các chỉ tiêu hay quyết tâm chính sách, mà phải được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, đơn hàng, việc làm và dòng vốn tại doanh nghiệp. Theo GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, vấn đề hiện nay không còn nằm ở việc ban hành thêm bao nhiêu chính sách, mà là tốc độ và chất lượng thực thi.
GS. Trần Thọ Đạt cho rằng, để đưa tăng trưởng lên một quỹ đạo mới, cần chuyển các chủ trương thành dòng vốn, mặt bằng, năng lượng, thủ tục và cơ hội thị trường cụ thể; đồng thời thiết lập một “luồng xanh tăng trưởng” để những doanh nghiệp có đơn hàng, dự án khả thi và khả năng tạo sức lan tỏa được tháo gỡ điểm nghẽn nhanh hơn.

Để chính sách thực sự đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
– Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên và đây cũng được xem là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nền tảng cho giai đoạn 2026 – 2030. Trong bối cảnh dư địa và áp lực tăng trưởng đều rất lớn, ông đánh giá như thế nào về vai trò của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số?
GS. Trần Thọ Đạt: Sáu tháng đầu năm đã đạt mức tăng trưởng tích cực, nhưng cũng cho thấy khoảng cách tới mục tiêu từ 10% trở lên không thể được lấp đầy chỉ bằng quyết tâm.
Tăng trưởng cuối cùng phải được tạo ra tại nhà máy, công trường, trang trại, cửa hàng và các nền tảng dịch vụ. Nói cách khác, doanh nghiệp là nơi biến chủ trương thành sản lượng, việc làm, thu nhập và nguồn thu ngân sách.
Vì vậy, nếu muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và duy trì quỹ đạo này trong giai đoạn 2026-2030, trọng tâm không chỉ là ban hành chính sách mà phải làm sao để chính sách thực sự đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp phải có đơn hàng, có vốn, có mặt bằng, có năng lượng, có nhân lực và có khả năng tiếp cận thị trường.
Khi những điều kiện đó được bảo đảm và các điểm nghẽn được xử lý đủ nhanh, doanh nghiệp mới có thể mở rộng đầu tư, tăng công suất, tuyển dụng lao động, nâng năng suất và tạo ra giá trị gia tăng. Đây mới là nền tảng thực chất của tăng trưởng.
– Thời gian qua, nhiều chủ trương và chính sách đã được ban hành, cải cách vẫn nỗ lực thực hiện. Vì sao doanh nghiệp vẫn cảm nhận còn nhiều rào cản?
GS. Trần Thọ Đạt: Khoảng cách hiện nay không còn chủ yếu nằm ở số lượng chính sách, mà ở tốc độ và chất lượng thực thi.
Nghị quyết 68 đã xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Nghị quyết 198 của Quốc hội cũng mở ra các cơ chế về tín dụng, thuế, đất đai, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực.
Vấn đề là doanh nghiệp không thể hưởng lợi từ một chủ trương nếu chủ trương đó chưa được chuyển thành quy trình rõ ràng, đầu mối chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết cụ thể.
– Ông đã đề cập tới việc thiết lập một “luồng xanh tăng trưởng”. Cơ chế này nên được hiểu như thế nào?
GS. Trần Thọ Đạt: Tôi cho rằng cần thiết lập một cơ chế xử lý nhanh, có thời hạn và có giám sát đối với những doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và dịch vụ có đơn hàng lớn, dự án khả thi, thị trường rõ ràng và khả năng tạo sức lan tỏa.
“Luồng xanh” không có nghĩa là bỏ qua pháp luật, hạ chuẩn môi trường hay dành đặc quyền cho một số doanh nghiệp. Đó là tổ chức lại quy trình để những hồ sơ đầy đủ không phải chờ đợi trong cùng một hàng đợi chung với các hồ sơ còn tranh chấp hoặc thiếu điều kiện.
Một tổ công tác liên ngành tại địa phương có thể tiếp nhận nhu cầu về tín dụng, đất đai, thuế, hải quan, chứng nhận xuất xứ và logistics; phân loại ngay vướng mắc thuộc thẩm quyền nào, từ đó ấn định thời hạn xử lý và công khai tiến độ.
Doanh nghiệp được vào luồng xanh phải đáp ứng tiêu chí minh bạch về thuế, lao động, môi trường. Cơ chế phải mở, có tiêu chí và có thể kiểm tra, tuyệt đối không vận hành theo quan hệ xin cho.
Giá trị lớn nhất của luồng xanh là rút ngắn thời gian từ cơ hội thị trường đến năng lực sản xuất.
– Vậy, theo quan điểm của ông, việc khơi thông tín dụng cho doanh nghiệp cần bắt đầu từ đâu, thưa Giáo sư?
GS. Trần Thọ Đạt: Với doanh nghiệp có đơn hàng, cần mở rộng cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng đầu ra và dữ liệu chuỗi cung ứng.
Có thể phát triển mạnh các hình thức tài trợ như tài trợ đơn hàng, bao thanh toán, bảo lãnh tín dụng, cho vay nhà cung ứng trong chuỗi của doanh nghiệp đầu đàn. Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các quỹ bảo lãnh địa phương phải thực sự chia sẻ một phần rủi ro với ngân hàng, thay vì tồn tại như những cửa thủ tục bổ sung.
Cần chú ý rằng khơi thông tín dụng không đồng nghĩa với nới lỏng tiêu chuẩn. Vốn rẻ chảy vào dự án kém hiệu quả sẽ tạo nợ xấu và áp lực lạm phát, rốt cuộc chính doanh nghiệp phải trả giá bằng lãi suất cao hơn.
Chính sách đúng là phân luồng tín dụng theo năng lực tạo giá trị: ưu tiên sản xuất, xuất khẩu, công nghệ, chuyển đổi xanh và các dự án có sức lan tỏa; đồng thời kiểm soát dòng vốn vào những lĩnh vực đầu cơ.
– Ngoài vốn, đâu là những điểm nghẽn cần xử lý ngay để doanh nghiệp tăng tốc?
GS. Trần Thọ Đạt: Trước hết là thị trường. Nhà nước cần nâng chất lượng xúc tiến thương mại, cảnh báo sớm rào cản kỹ thuật và phòng vệ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và quy tắc xuất xứ.
Ở thị trường trong nước, đầu tư công và mua sắm công cần tạo cơ hội cạnh tranh, tham gia minh bạch cho sản phẩm và nhà cung ứng Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn.
Tiếp đến là đất đai, năng lượng và thủ tục. Một doanh nghiệp có đơn hàng nhưng điện thiếu ổn định, chậm bàn giao mặt bằng hoặc phải đi qua nhiều cơ quan để điều chỉnh giấy phép thì khó giao hàng đúng hạn.
Cần một đầu mối xử lý theo vòng đời dự án, liên thông dữ liệu giữa thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh, đất đai và ngân hàng.
Mục tiêu giảm thời gian và chi phí tuân thủ chỉ có ý nghĩa khi được đo tại doanh nghiệp. Đó là một dự án đi vào sản xuất sớm hơn bao nhiêu ngày, một lô hàng được thông quan nhanh hơn bao nhiêu giờ.

Chuyển từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo năng lực”
– Làm thế nào để các chính sách về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành năng suất?
GS. Trần Thọ Đạt: Đây là điểm phải thay đổi mạnh. Hỗ trợ đổi mới không nên dừng ở việc doanh nghiệp mua thêm thiết bị hay phần mềm. Cần khuyến khích doanh nghiệp cải tiến quy trình, thiết kế sản phẩm, quản trị dữ liệu, tiết kiệm năng lượng và xây dựng năng lực nghiên cứu.
Cơ chế cho phép tính chi phí nghiên cứu và phát triển ở mức cao hơn chi phí thực tế khi xác định thu nhập chịu thuế là một hướng tiến bộ, nhưng thủ tục chứng minh phải đủ đơn giản để doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng được.
Cần sớm hình thành các chương trình “phiếu đổi mới sáng tạo”, theo đó Nhà nước đồng tài trợ có giới hạn để doanh nghiệp thuê trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thử nghiệm hoặc chuyên gia giải quyết một bài toán cụ thể.
Kết quả phải được đo bằng năng suất, tỷ lệ nội địa hóa, mức tiết kiệm năng lượng hoặc doanh thu từ sản phẩm mới, không đo bằng số báo cáo, số nền tảng được khai trương hay số doanh nghiệp đăng ký tham gia.
– Cuối cùng, nếu được gửi một kiến nghị, ông sẽ gửi gắm điều gì tới các cơ quan chức năng để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, thưa ông?
GS. Trần Thọ Đạt: Tôi muốn nhấn mạnh thông điệp: hãy chuyển từ tư duy “hỗ trợ doanh nghiệp” sang “kiến tạo năng lực cho doanh nghiệp”.
Hỗ trợ có thể là một khoản giảm thuế hoặc một gói tín dụng. Kiến tạo năng lực là làm cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực bình đẳng, dự báo được chính sách, giảm thời gian chờ đợi, đổi mới được công nghệ và tìm được thị trường.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, nguồn lực phải tập trung vào những dự án có khả năng hoàn thành, những doanh nghiệp có đơn hàng và những cải cách có sức lan tỏa.
Việc đã rõ phải giải quyết đến cùng. Việc mới cần thí điểm có kiểm soát.
Khi mỗi tuần chờ thủ tục là một tuần mất đơn hàng, thì tốc độ của bộ máy trở thành một bộ phận của năng suất quốc gia.
Nếu tạo được niềm tin rằng kinh doanh chân chính và hiệu quả được bảo vệ, những vướng mắc chính đáng được xử lý đúng hạn, doanh nghiệp sẽ tự huy động thêm nguồn lực lớn hơn nhiều so với bất kỳ gói hỗ trợ nào.
– Trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/tao-luong-xanh-tang-truong-dua-chu-truong-thanh-dong-von-co-hoi-cho-dn-d150045.html.
