VETC, Viettel Money và bài toán thiết kế lại chính sách thu phí

by HDgroup
0 views

Không chỉ là câu chuyện 6.600 đồng

Sau khi nhận nhiều phản ứng trái chiều từ khách hàng, VETC và Viettel Money đã dừng chính sách thu phí dịch vụ ví điện tử 6.600 đồng/tháng đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng đối với khách hàng tổ chức, dự kiến áp dụng từ ngày 1/8/2026. Hai đơn vị cho biết tạm dừng chính sách để rà soát và xây dựng phương án phù hợp hơn. Dẫu vậy, dư âm của câu chuyện vẫn đặt ra một bài toán lớn hơn về quyền lựa chọn, tính minh bạch và cách thiết kế phí đối với dịch vụ gắn với hoạt động giao thông thiết yếu.

Ông Trần Nguyên Đán, chuyên gia kinh tế, thành viên hội Hội Luật gia Việt Nam

Trao đổi với VietnamFinance, ông Trần Nguyên Đán, chuyên gia kinh tế, thành viên hội Hội Luật gia Việt Nam, cho rằng mấu chốt của phản ứng vừa qua không nằm ở con số 6.600 đồng, mà ở chỗ khoản thu xuất hiện sau khi người dùng đã được đưa vào một trạng thái không còn nhiều đường lui.

Trước hết, cần tách bạch hai loại phí đang bị gộp làm một. Một là phí dịch vụ quản lý ví điện tử, thu theo tháng, không phụ thuộc việc phương tiện có qua trạm hay không. Hai là phí xử lý giao dịch, theo thông tin từ nhà cung cấp, chỉ áp dụng với tài khoản có phát sinh lượt xe qua trạm trong tháng liền trước.

“Loại thứ nhất gắn với sự tồn tại của ví điện tử. Loại thứ hai gắn với việc sử dụng. Phần lớn sự bức xúc của khách hàng tập trung vào loại thứ nhất, và tôi cho rằng điều đó hợp lý”, ông Đán nói.

Theo chuyên gia, với dịch vụ thu phí điện tử không dừng, phản ứng của người dùng còn xuất phát từ đặc thù đây không hoàn toàn là một dịch vụ thương mại mà người dân có thể tùy ý lựa chọn tham gia hay không.

Việc chuyển tài khoản thu phí sang tài khoản giao thông kết nối với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt là yêu cầu bắt buộc theo khoản 4 Điều 31 Nghị định 119/2024/NĐ-CP, phải hoàn tất trước ngày 1/10/2025.

“Khi một khoản phí xuất hiện trên nền một nghĩa vụ pháp lý, cảm giác của người trả tiền sẽ khác hẳn cảm giác khi mua một dịch vụ thương mại. Họ không rời đi được, nên họ lên tiếng”, ông Đán nhận định.

Tuy nhiên, ông lưu ý người dùng về mặt pháp lý vẫn có quyền lựa chọn. Khoản 5 Điều 4 Nghị định 119 ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền được lựa chọn dịch vụ của chủ phương tiện; khoản 2 Điều 11 quy định tài khoản giao thông được kết nối với một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, không giới hạn ở ví điện tử của chính nhà cung cấp.

Vấn đề theo ông Đán nằm ở chỗ quyền này chưa được đặt trước mắt người dùng đúng thời điểm họ cần sử dụng. “Một quyền mà người ta không biết mình có thì trên thực tế gần như không tồn tại”, ông nói.

Thiết kế lại bài toán thu phí

Việc VETC và ePass dừng thu phí sau phản ứng của khách hàng, theo đó, có thể giải quyết trước mắt vấn đề gây tranh luận, nhưng chưa giải quyết câu hỏi dài hạn: nếu các doanh nghiệp vẫn cần thu phí để duy trì và đầu tư hệ thống, mô hình thu phí nào sẽ vừa bảo đảm tính bền vững của dịch vụ, vừa phù hợp với quyền lợi người dùng?

Mấu chốt, theo chuyên gia Trần Nguyên Đán, không phải là có nên thu phí hay không, mà khoản thu nên gắn vào yếu tố nào.

Trước hết, cần phân biệt dịch vụ thanh toán điện tử giao thông đường bộ theo Nghị định 119 và dịch vụ ví điện tử theo Thông tư 40. Đây là hai dịch vụ khác nhau, chịu hai khung điều chỉnh khác nhau. Khoản 6.600 đồng là phí của dịch vụ ví điện tử, không phải tiền sử dụng đường bộ và không làm thay đổi mức giá qua trạm.

Đối với chi phí cho nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ, Điều 19 Nghị định 119 quy định khoản chi phí này được xác định trong hợp đồng dịch vụ thu ký với đơn vị quản lý thu; theo Điều 17, chi phí được trừ vào doanh thu trước khi hoàn trả.

“Đây là hai dòng tiền tách bạch. Nhưng sự tách bạch về pháp lý chỉ có ý nghĩa với người dùng khi nó tách bạch cả trên thực tế, ở đúng màn hình mà họ ra quyết định”, ông Đán nói.

Từ đó, ông đề xuất một số hướng nếu chính sách thu phí được thiết kế lại.

Thứ nhất, gắn khoản thu với việc sử dụng thay vì sự tồn tại của tài khoản.

Theo ông Đán, đây là mô hình đang được áp dụng tại Pháp. Các đơn vị cung cấp thẻ thu phí không dừng thuộc hệ thống Liber-t như Ulys, Bip&Go, Fulli có công thức tính phí quản lý theo tháng có sử dụng. Tháng nào xe không đi qua trạm cao tốc thì phí quản lý bằng 0; song song là công thức thuê bao cố định dành cho người đi thường xuyên.

Ở Việt Nam, nguyên tắc này đã xuất hiện trong phí xử lý giao dịch nhưng chưa được áp dụng với phí quản lý ví. Tuy nhiên, mô hình này cũng có đánh đổi: doanh thu kém ổn định, khó dự báo dòng tiền để đầu tư và bảo trì hạ tầng; mức phí trong tháng có sử dụng có thể phải cao hơn 6.600 đồng. “Đây là lựa chọn giữa công bằng theo mức sử dụng và ổn định nguồn thu, không có phương án nào tốt ở cả hai mặt”, ông nói.

Thứ hai, chuẩn hóa việc hiển thị lựa chọn phương thức thanh toán.

Nhà cung cấp nên hiển thị tại màn hình đăng ký và trong các thông báo thay đổi phí đầy đủ phương thức thanh toán không dùng tiền mặt có thể kết nối, kèm mức phí tương ứng và cho phép chuyển đổi ngay trên ứng dụng.

Theo ông Đán, đây là cách đưa khoản 5 Điều 4 và khoản 8 Điều 11 Nghị định 119 vào thực tế. Đổi lại, nhà cung cấp có thể mất một phần doanh thu từ ví và phải chịu thêm chi phí kỹ thuật khi kết nối với nhiều ngân hàng.

Thứ ba, quy định thời hạn báo trước tối thiểu khi tăng phí, đi kèm quyền chấm dứt không mất phí.

Thông tư 40 đã yêu cầu thỏa thuận quy định việc điều chỉnh phí nhưng chưa quy định thời hạn báo trước tối thiểu. Ông Đán đề xuất có thể tham chiếu Điều 54 PSD2 (Chỉ thị Dịch vụ thanh toán sửa đổi của Liên minh châu Âu) với thời hạn 2 tháng, đồng thời cho phép mức phí giảm được áp dụng ngay. Đánh đổi là doanh nghiệp mất một phần tính linh hoạt khi chi phí đầu vào biến động đột ngột.

Thứ tư, công bố định kỳ cấu phần chi phí ở mức tổng hợp.

Người dân không cần biết chi tiết chi phí nội bộ, nhưng cần biết tổng thu từ khoản phí trong kỳ và các nhóm chi phí lớn tương ứng để có cơ sở đánh giá mức phí. Dữ liệu này đã tồn tại nhờ yêu cầu hạch toán tách bạch tại khoản 5 Điều 9 Thông tư 40. Theo ông, nên công bố ở mức tổng hợp để hạn chế chi phí tuân thủ và rủi ro lộ thông tin cạnh tranh.

Ngoài bốn hướng trên, ông Đán đề xuất xem xét đưa dịch vụ ví điện tử gắn với tài khoản giao thông vào phạm vi cần kiểm soát chặt hơn về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung.

Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 quy định tổ chức kinh doanh sản phẩm, dịch vụ có số lượng lớn người tiêu dùng mua, sử dụng thường xuyên, liên tục, có tác động trực tiếp và lâu dài phải đăng ký hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung. Danh mục hiện hành theo Thông tư 42/2025/TT-BCT gồm 8 nhóm nhưng chưa có dịch vụ trung gian thanh toán.

“Với khoảng 6,3 triệu phương tiện đã dán thẻ, tôi nghĩ dịch vụ ví điện tử gắn với tài khoản giao thông đáp ứng khá rõ các tiêu chí của khoản 1 Điều 28”, ông Đán nhận định.

Ông đề xuất bổ sung với phạm vi hẹp, chỉ áp dụng đối với ví gắn với dịch vụ mang tính bắt buộc, tránh làm gia tăng thủ tục cho toàn ngành. Đổi lại, cơ quan tiếp nhận đăng ký sẽ phát sinh thêm khối lượng công việc.

Nguồn : https://vietnamfinance.vn/vetc-viettel-money-va-bai-toan-thiet-ke-lai-chinh-sach-thu-phi-d149459.html.

You may also like