Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển được Hội nghị Trung ương 3 xác định là nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đây không chỉ là sự thay đổi về mô hình tăng trưởng mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển, từ khai thác lợi thế sẵn có sang kiến tạo năng lực quốc gia.
Về vấn đề này, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với GS.TS Trần Thọ Đạt, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Việt Nam không chỉ cần tăng trưởng nhanh

-Thưa ông, Hội nghị Trung ương 3 vừa qua dành nhiều thời gian thảo luận về Nghị quyết đổi mới mô hình phát triển. Theo ông, vì sao thời điểm này Việt Nam lại phải đặt vấn đề đổi mới mô hình phát triển thay vì chỉ tiếp tục cải thiện mô hình tăng trưởng?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Tôi cho rằng đây là một bước chuyển rất quan trọng về tư duy. Trước đây, chúng ta thường nói đến đổi mới mô hình tăng trưởng, tức là tìm cách để GDP tăng nhanh hơn thông qua vốn, lao động hay năng suất. Nhưng lần này, phạm vi của Nghị quyết rộng hơn rất nhiều. Đó là đổi mới mô hình phát triển.
Hai khái niệm này không giống nhau.
Mô hình tăng trưởng chủ yếu trả lời câu hỏi nền kinh tế sẽ tăng trưởng bằng nguồn lực nào. Trong khi đó, mô hình phát triển phải trả lời những câu hỏi căn bản hơn: tăng trưởng được tạo ra trong một cấu trúc thể chế nào, nguồn lực được phân bổ ra sao, thành quả phát triển có nâng cao năng lực tự chủ của đất nước hay không, có cải thiện chất lượng sống của người dân hay không và có đủ sức chống chịu trước những cú sốc toàn cầu hay không.
Đó là tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 và xa hơn.
– Điều đó có nghĩa là những động lực từng giúp Việt Nam tăng trưởng suốt gần bốn thập kỷ qua đang dần mất tác dụng?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Có thể nói là đang dần tới hạn.
Trong nhiều năm, Việt Nam phát triển dựa trên những lợi thế rất rõ ràng như lao động giá rẻ, tài nguyên, mở rộng đầu tư và thu hút FDI theo hướng gia công, lắp ráp.
Mô hình đó đã thành công và đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.
Nhưng hiện nay bối cảnh đã thay đổi khi dân số đang già hóa, quỹ đất và tài nguyên không còn nhiều, công nghệ phát triển rất nhanh, các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn carbon hay yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận thị trường.
Nếu vẫn tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên thì dư địa tăng trưởng sẽ ngày càng thu hẹp.
Muốn đạt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam không chỉ cần tăng trưởng nhanh mà còn phải tăng trưởng bằng một chất lượng hoàn toàn khác.
–Theo ông, đâu là ba chuyển đổi lớn nhất trong mô hình phát triển mới?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Tôi cho rằng có ba chuyển đổi mang tính nền tảng.
Thứ nhất là chuyển đổi động lực tăng trưởng. Thay vì phụ thuộc quá nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ, động lực mới phải là năng suất, tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Đây mới là nguồn lực gần như vô hạn của một nền kinh tế hiện đại.
Thứ hai là chuyển đổi vị thế của doanh nghiệp Việt Nam. Không thể mãi đứng ở những khâu có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Doanh nghiệp Việt phải từng bước tham gia vào nghiên cứu phát triển, thiết kế, sản xuất công nghệ, thương hiệu và dịch vụ bới nếu không leo lên những nấc thang cao hơn thì giá trị gia tăng vẫn sẽ nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài.
Thứ ba là chuyển đổi triết lý phát triển. Con người không chỉ là đối tượng được hưởng thành quả phát triển mà còn là chủ thể tạo ra sự phát triển.
Mọi chính sách cuối cùng đều phải hướng đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội phát triển và tạo điều kiện để mỗi người dân phát huy năng lực của mình.
– Như vậy, năng suất sẽ trở thành thước đo quan trọng nhất?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Đúng vậy. Tuy nhiên, cần nhìn nhận năng suất không chỉ là câu chuyện của từng doanh nghiệp mà là kết quả của cả một hệ thống vận hành. Năng suất được quyết định bởi chất lượng thể chế, mức độ cạnh tranh của thị trường, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.
Nói cách khác, năng suất là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Nếu một mắt xích trong chuỗi đó còn yếu, từ thể chế, môi trường kinh doanh đến công nghệ hay kỹ năng lao động, thì năng suất của cả nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, muốn nâng cao năng suất một cách bền vững, chúng ta phải cải thiện đồng bộ tất cả các yếu tố này, chứ không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của doanh nghiệp.
– Ông nhiều lần nhấn mạnh rằng thể chế phải đi trước. Vì sao đây được coi là điều kiện tiên quyết?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Bởi vì thể chế quyết định cách phân bổ nguồn lực.
Một thể chế minh bạch, ổn định và nhất quán sẽ khuyến khích đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đưa nguồn lực đến nơi sử dụng hiệu quả nhất.
Ngược lại, nếu pháp luật còn chồng chéo, thủ tục hành chính phức tạp, rủi ro pháp lý không rõ ràng thì doanh nghiệp sẽ hình thành tâm lý rất nguy hiểm, đó là “thà đứng yên còn hơn làm sai”.
Khi đó, sáng tạo sẽ bị triệt tiêu.
Nguồn lực sẽ bị đóng băng.
Đây chính là điều Việt Nam phải tháo gỡ nếu muốn bước sang giai đoạn phát triển mới.
– Trong mô hình mới, vai trò của khu vực tư nhân và FDI sẽ thay đổi như thế nào?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Nhà nước không thể và cũng không nên làm thay thị trường.
Vai trò của Nhà nước là kiến tạo.
Tức là giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đầu tư hạ tầng chiến lược, phát triển dữ liệu dùng chung, đào tạo nguồn nhân lực và bảo đảm cạnh tranh công bằng.
Kinh tế tư nhân chỉ có thể trở thành động lực khi quyền tài sản được bảo vệ, chi phí tuân thủ giảm và cơ hội tiếp cận vốn, đất đai, dữ liệu hay thị trường được bình đẳng.
Đối với FDI, chúng ta cũng phải thay đổi cách đánh giá.
Không chỉ nhìn vào số vốn đăng ký.
Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp FDI có chuyển giao công nghệ hay không, có kéo doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng hay không và có giúp hình thành đội ngũ kỹ sư, nhà quản trị và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước hay không.
Hội nhập chỉ thực sự thành công khi ngoại lực làm mạnh thêm nội lực.
– Một điểm mới của Nghị quyết là gắn đổi mới mô hình phát triển với tổ chức không gian phát triển quốc gia. Ông đánh giá thế nào về tư duy này?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Đây là cách tiếp cận rất hiện đại.
Hiện nay đất đai, biển, logistics, năng lượng hay dữ liệu đều vượt ra khỏi ranh giới của từng địa phương.
Nếu vẫn quản lý theo tư duy cục bộ thì hiệu quả chung sẽ rất thấp.
Điều cần làm là thống nhất về chiến lược, tiêu chuẩn và dữ liệu nhưng phân quyền mạnh cho địa phương trên cơ sở đủ nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng.
Nếu chỉ phân cấp mà không đi kèm năng lực thực thi thì điểm nghẽn chỉ chuyển từ cấp trên xuống cấp dưới.
Điểm nghẽn lớn nhất là khâu thực thi
– Theo ông, yếu tố nào sẽ quyết định thành công của Nghị quyết?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Theo tôi, đó là thực thi.
Tại Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh rất rõ rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là khâu thực thi.
Đây không phải chuyện của riêng bộ máy hành chính.
Một chính sách đúng nhưng không xác định rõ ai làm, làm bằng nguồn lực nào, khi nào hoàn thành và ai chịu trách nhiệm thì vẫn chỉ là một tuyên bố mục tiêu.
Vì vậy, ngay từ khi thiết kế chính sách phải đồng thời thiết kế luôn năng lực thực thi.
Mỗi chương trình phải có đầu ra cụ thể, có thời hạn, có nguồn lực và có người chịu trách nhiệm.
Đồng thời cần theo dõi bằng dữ liệu và công khai kết quả.
Đó mới là quản trị hiện đại.
– Ông muốn gửi gắm điều gì về ý nghĩa của Nghị quyết đổi mới mô hình phát triển?
GS.TS Trần Thọ Đạt: Tôi cho rằng ý nghĩa lớn nhất là Việt Nam đang tự đặt mình trước một chuẩn phát triển cao hơn.
Nghị quyết sẽ không chỉ được đánh giá bằng những mục tiêu GDP mà bằng việc nó có tạo ra năng lực mới cho đất nước hay không.
Muốn đi nhanh phải khơi thông nguồn lực.
Muốn đi xa phải nâng cao năng suất.
Và muốn phát triển bền vững thì con người cùng năng lực quốc gia phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm.
Đó cũng chính là yêu cầu của giai đoạn phát triển mới và là con đường để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển vào năm 2045.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/diem-nghen-lon-nhat-cua-viet-nam-khong-con-la-von-d148273.html.
