Giảm 30% thuế: Cần chuyển hóa giải pháp trước mắt thành chiến lược dài hạn

by HDgroup
0 views

Theo nội dung tại Nghị quyết số 43 Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa có doanh thu năm dưới 10 tỷ đồng trong hai năm 2026 – 2027, mức giảm là 30%. Bộ Tài chính đang đề xuất sẽ áp dụng ngay từ kỳ kê khai thuế quý III/2026 thay vì chờ đến hết năm.

Số liệu của Bộ Tài chính ghi nhận, có gần 2,7 triệu hộ kinh doanh, tương đương gần 100% tổng số hộ và hơn 865.000 doanh nghiệp, chiếm trên 81% tổng số doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng mỗi năm.

Tính toán của Chính phủ nêu, ngân sách năm 2026 dự kiến giảm thu khoảng 3.191 tỷ đồng và khoảng 3.510 tỷ vào 2027. Những con số nêu trên cho thấy, đây không phải chính sách dành cho một nhóm nhỏ, mà trực tiếp hướng tới bộ phận đông đảo nhất của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, Chính phủ cũng thông tin, đây là giải pháp tình thế hỗ trợ ngắn hạn, góp phần nuôi dưỡng nguồn thu trong dài hạn.

DN nhỏ và vừa, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng sẽ được giảm 30% thuế.

Từ góc độ hộ kinh doanh, ông Cao Hoàng Anh (45 tuổi), chủ hộ kinh doanh ẩm thực tại phường Minh Khai, TP. Hà Nội chia sẻ, gia đình ông có 2 cơ sở kinh doanh tại địa bàn, bán hàng cơm, phở từ năm 2014, doanh thu ổn định trung bình/ngày khoảng 20 triệu đồng, mỗi năm doanh số bán hàng trên dưới 7 tỷ đồng, nhưng trong khoảng hơn 1 năm trở lại đây, điều làm ông lo ngại nhất là tuân thủ chính sách thuế.

Theo ông, trước đây nộp thuế khoán theo quy định nhà nước, từ 1/1 năm nay, 2 cơ sở kinh doanh chuyển qua đăng ký sử dụng hoá đơn điện tử và nộp thuế theo phương pháp kê khai. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi gặp rất nhiều khó khăn từ việc phải thêm giấy tờ, thủ tục, chi phí đầu tư máy tính tiền, máy POS, đến việc kê khai, nộp thuế… Bên cạnh đó là nỗi lo sợ kê khai sai, dẫn đến phạt hoặc truy thu, đặc biệt là việc thay đổi, cập nhật liên tục các chính sách thuế trong thời gian gần đây.

“Nghe đến giảm thuế 30%, tôi rất vui mừng, việc này giúp có thêm dòng tiền, hỗ trợ thêm các chi phí đã đầu tư. Nhưng về lâu dài, chúng tôi không sợ nộp thuế, mà là cần hỗ trợ về việc tuân thủ pháp luật thuế làm sao đơn giản hoá, dễ thực hiện, dễ tuân thủ, tránh sai sót dẫn đến phạt, truy thu”, ông Hoàng Anh chia sẻ.

Hỗ trợ kịp thời giúp nuôi dưỡng nguồn thu

Chia sẻ với Tạp chí Đầu tư Tài chính, PGS. TS Ngô Trí Long cho biết, đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, một trong những khó khăn lớn nhất là khả năng duy trì dòng tiền. Đặc thù quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế, trong khi doanh nghiệp phải thường xuyên chi trả tiền lương, nguyên vật liệu, mặt bằng, vận chuyển, lãi vay và nhiều chi phí hoạt động khác. Do đó, khoản thuế được giảm có ý nghĩa thực tế hơn nhiều nếu nhìn dưới góc độ vốn lưu động, giữ lại một phần lợi nhuận phục vụ cho kinh doanh.

Với từng hộ kinh doanh, doanh nghiệp, số tiền được giảm có thể không quá lớn, nhưng khi chính sách bao phủ hàng trăm nghìn doanh nghiệp và hàng triệu hộ kinh doanh, tổng lượng vốn được giữ lại trong khu vực sản xuất, kinh doanh có thể tạo ra tác động đáng kể. Đây là vòng lan tỏa đầu tiên, giảm thuế giúp cải thiện dòng tiền, duy trì và mở rộng sản xuất, theo PGS. TS Ngô Trí Long.

PGS. TS Ngô Trí Long.

Tiếp theo, khi giữ lại được nhiều lợi nhuận hơn, cũng giúp tăng thêm khả năng tái đầu tư. Một cơ sở nhỏ có thể chưa đủ nguồn lực mở nhà máy mới, nhưng có thể mua thêm máy móc, mở rộng cửa hàng, đầu tư phần mềm quản lý hoặc thuê thêm lao động. Nếu hàng trăm nghìn doanh nghiệp, hộ kinh doanh cùng tăng chi tiêu đầu tư ở quy mô nhỏ, tác động cộng hưởng đối với nền kinh tế sẽ không nhỏ. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh có vai trò rất lớn trong tạo việc làm. Từ đây hình thành vòng lan tỏa thứ hai, doanh nghiệp có thêm nguồn lực, người lao động duy trì và tăng thu nhập, sức mua trong nền kinh tế được củng cố, tiêu dùng tăng trở lại tạo thêm nguồn thu cho chính doanh nghiệp.

Một hiệu ứng quan trọng khác của chính sách giảm thuế 30% là tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp. Một trong những tâm lý phổ biến của hộ kinh doanh là lo ngại rằng khi chuyển thành doanh nghiệp, nghĩa vụ về thuế, kế toán, hóa đơn và quản trị sẽ tăng lên. Trong bối cảnh đó, chính sách giảm 30% thuế thu nhập trong hai năm có thể tạo một khoảng đệm cần thiết. Nếu đi kèm với đơn giản hóa chế độ kế toán, hóa đơn điện tử, thủ tục đăng ký và hỗ trợ chuyển đổi số, chính sách sẽ góp phần giảm “chi phí gia nhập” khu vực doanh nghiệp chính thức. Đây là tác động có ý nghĩa lâu dài.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, bản chất của chính sách này tư duy “tối đa hóa số thu trước mắt” sang “nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài”. Một nền tài chính công bền vững không thể chỉ dựa vào việc tăng mức thuế hoặc thu nhiều hơn từ những doanh nghiệp đang hoạt động. Quan trọng hơn là tạo môi trường để số lượng doanh nghiệp tăng lên, quy mô doanh nghiệp lớn hơn và lợi nhuận được cải thiện. Trong điều kiện phù hợp, một đồng thuế được giảm hôm nay có thể tạo ra nhiều đồng doanh thu, đầu tư và thu nhập trong tương lai, nguồn thu ngân sách cũng sẽ bền vững hơn.

Tuy nhiên, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng chính sách tốt chỉ phát huy đầy đủ tác dụng nếu việc thực thi đơn giản, minh bạch và đúng đối tượng. Trước hết, cần hạn chế tối đa thủ tục hành chính. Nếu doanh nghiệp phải mất quá nhiều thời gian và chi phí để chứng minh điều kiện được giảm thuế thì lợi ích thực tế của chính sách sẽ bị thu hẹp. Thứ hai, cần kiểm soát hiện tượng chia, tách doanh nghiệp hoặc điều chỉnh doanh thu nhằm duy trì mức dưới 10 tỷ đồng để được hưởng ưu đãi. Ngoài ra, cũng cần quan tâm tới “hiệu ứng ngưỡng”, bởi khi đạt mốc 10 tỷ đồng, doanh nghiệp có thể trì hoãn tăng trưởng, điều chỉnh thời điểm ghi nhận doanh thu hoặc chia nhỏ hoạt động để hưởng ưu đãi thuế.

Đồng quan điểm, Ths Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín (Trọng Tín Tax) nhận định, giảm thuế 30% là chính sách tài khoá rất kịp thời, giúp người dân, doanh nghiệp có thêm dòng tiền, tăng thu nhập, đầu tư tư nhân cũng tăng theo, sản xuất, kinh doanh sẽ dần phục hồi trong giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra, chính sách này có thời hạn 2 năm, đây là giải pháp ngắn hạn “tạm thời”, có tính chất trợ lực, chưa thể trở thành một giải pháp toàn diện và dài hạn đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Cần luật hoá chính sách hỗ trợ dài hạn

Ông Nguyễn Văn Được cho rằng, về lâu dài, cơ quan điều hành cần có những giải pháp căn cơ, thực tế và đồng bộ. Trước hết, cần có chính sách tiền tệ song hành với các giải pháp cụ thể về hỗ trợ lãi suất và vốn tín dụng, giúp nhóm này tiếp cận nguồn vốn để đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

Báo cáo của FiinGroup ghi nhận, khoảng trống tiếp cận vốn của nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) còn lớn, chỉ 20,5% doanh nghiệp đang vay vốn, trong khi tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp lớn đạt 61,4%. Ngoài ra, khả năng tiếp cận vốn cũng phân hóa trong khu vực SME khi 8,8% ở doanh nghiệp siêu nhỏ và 30,9% ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, SME là tệp tín dụng tiềm năng với 51.000 doanh nghiệp SME hoạt động trên 5 năm, chưa ghi nhận nợ vay, đồng thời có dòng tiền kinh doanh và tăng trưởng doanh thu dương.

Trên thực tế, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân đã có chủ trương giảm 2% lãi suất vay cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Tuy nhiên, theo ông Được, chủ trương này cần được “hiện thực hoá” bằng những quy định cụ thể về ngân hàng cho vay, đối tượng được vay, điều kiện và thủ tục tiếp cận vốn, qua đó giúp doanh nghiệp thực sự tiếp cận được nguồn vốn, cùng với các chính sách tín dụng khác.

Tiếp cận vốn vay là một trong những khó khăn của nhóm DN nhỏ và vừa, Hộ kinh doanh.

Các ngân hàng cũng cần chung tay vào quá trình hỗ trợ doanh nghiệp SME và hộ kinh doanh. Ông Nguyễn Xuân Cường, Phó Giám đốc Khối SME, kiêm Phó Giám đốc khối Ngân hàng số MB cho rằng một trong những khó khăn của nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) khả năng tiếp cận nguồn vốn nhanh nhưng phải đúng lúc cần dòng tiền. Do đó, ngân hàng cần tiếp cận với nhóm hộ kinh doanh và doanh nghiệp SME theo hướng đáp ứng yêu cầu tài chính toàn diện, không chỉ dừng lại ở nhu cầu cung cấp vốn tín dụng nhanh chóng, với lãi suất ưu đãi, mà còn hỗ trợ tạo ra một hệ sinh thái kết nối với các doanh nghiệp khác.

“Chậm một nhịp tiếp cận vốn có thể khiến doanh nghiệp nhỏ mất đi một cơ hội kinh doanh lớn, ngân hàng ngoài cấp vốn nhanh, đúng thời điểm, còn hỗ trợ cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị và cạnh tranh”, ông Nguyễn Xuân Cường cho hay.

Ởgóc độ chính sách thuế, đại diện Trọng Tín Tax cho rằng để hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ không còn tâm lý “e sợ”, cần tiếp tục cải cách thủ tục tuân thủ thuế và đăng ký kinh doanh theo hướng đơn giản, thuận tiện nhất. Đây là nhóm có đặc thù dễ tổn thương về tài chính, đồng thời hạn chế về năng lực, chuyên môn và nhận thức trong việc tuân thủ pháp luật.

Theo ông, cần làm rõ nhiều vấn đề trong quá trình thực thi chính sách, chẳng hạn ngưỡng doanh thu áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu là 3 tỷ đồng hay 10 tỷ đồng; chính sách về hoá đơn được áp dụng như thế nào; trường hợp bán hàng lẻ có được xuất hoá đơn gộp hay không.

“Nhiều hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp nhiều khó khăn, phiền hà về thủ tục và tuân thủ, gây lo lắng, hoang mang. Rất cần các cơ quan quản lý đánh giá, hoạch định lại một cách căn cơ, cụ thể, thực chất hơn”, ông Được đề nghị.

Ths Luật sư Nguyễn Văn Được, CEO Trọng Tín Tax.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh thực sự nhận được hỗ trợ, ông Được cho rằng các chính sách cần được luật hoá và quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật. Nghị quyết 68 đã xác định rõ chủ trương, Nghị định 20/2026 cũng quy định nhóm này được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn chưa rõ ràng hoặc còn giới hạn về phạm vi áp dụng.

Đơn cử, quy định miễn phí sử dụng hoá đơn điện tử chỉ áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; việc miễn phí phần mềm kế toán dùng chung chưa xác định rõ đối tượng được hưởng; chính sách hỗ trợ đào tạo kiến thức tài chính, thuế cho chủ hộ kinh doanh cũng chưa xác định rõ thời điểm triển khai.

Một trường hợp khác là Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực từ năm 2018, trong đó quy định đối tượng được hưởng thuế suất thấp hơn mức thông thường 20%, nhưng đến năm 2026 chính sách này mới được cụ thể hoá với mức thuế suất 17%.

Theo ông Được, vấn đề hiện nay không chỉ là chủ trương đã được xác lập, mà còn là thời điểm triển khai, quy trình thực hiện, đối tượng thụ hưởng, nội dung ưu đãi, thời hạn áp dụng, đặc biệt là cơ quan nào chịu trách nhiệm triển khai. Những nội dung này hiện chưa được quy định rõ ràng. Do đó, Chính phủ và Quốc hội cần xây dựng một lộ trình cụ thể.

“Sắp tới đây Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó, theo tôi cần đưa ngay các chính sách hỗ trợ cho nhóm này cụ thể vào từng điều luật, sau đó có Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Như vậy, các chủ trương tại Nghị quyết 68 mới thực sự đến được tay các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh”, ông Nguyễn Văn Được kiến nghị.

Nguồn : https://vietnamfinance.vn/giam-30-thue-tndn-can-chuyen-hoa-giai-phap-truoc-mat-thanh-chien-luoc-dai-han-d151178.html.

You may also like