Chính phủ vừa quyết định giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân, giảm mạnh giá xăng dầu và đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%. Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn chịu áp lực lớn từ chi phí đầu vào, đây được xem là những giải pháp hỗ trợ thiết thực, góp phần giảm gánh nặng sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tiêu dùng.
Trước các chính sách hỗ trợ thiết thực này, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance có cuộc trò chuyện với Chyên gia kinh tế, TS. Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.

Quan trọng hơn cả là trao cơ hội kinh doanh
– Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của các quyết định này trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn đang chịu áp lực lớn từ chi phí đầu vào?
TS. Huỳnh Thanh Điền: Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Muốn đạt được mục tiêu đó, Nhà nước phải tạo điều kiện để người dân mạnh dạn chi tiêu và doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Những chính sách giúp giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, giảm gánh nặng chi tiêu cho người dân vì thế có ý nghĩa rất quan trọng.
Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu đối với hoạt động sản xuất, vận tải và cả đời sống thường ngày. Khi giảm được chi phí liên quan đến mặt hàng này, doanh nghiệp có thêm dư địa để tiết giảm chi phí sản xuất, còn người dân cũng giảm được áp lực chi tiêu. Qua đó, tiêu dùng có thể được thúc đẩy và hoạt động sản xuất, kinh doanh có thêm động lực.
Ở góc độ điều hành, việc giảm thuế chính là một biểu hiện của chính sách tài khóa mở rộng. Nhà nước giảm thuế tức là để lại thêm nguồn lực cho người dân và doanh nghiệp. Người dân có thêm khả năng chi tiêu, doanh nghiệp giảm được gánh nặng chi phí và có điều kiện thúc đẩy sản xuất. Đây là hướng điều hành cần thiết nếu muốn tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
– Theo ông, những chính sách này đã đủ tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hay chưa?
TS.Huỳnh Thanh Điền: Giảm giá điện và thuế xăng dầu là một trong các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp rất ý nghĩa nhưng để chính sách hiệu quả hơn phải có sự đồng bộ trong các giải pháp tạo cơ hội làm ăn, có đơn hàng và mở rộng thị trường.
Muốn vậy, cần đẩy mạnh đầu tư công, nhưng không chỉ quan tâm đến quy mô giải ngân mà còn phải chú trọng cách phân bổ nguồn lực và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia.
Trong các dự án giao thông, năng lượng và hạ tầng, cần thiết kế những hạng mục phù hợp để doanh nghiệp Việt cung ứng sản phẩm, dịch vụ, máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào hàng nhập khẩu. Nếu chưa đủ năng lực thực hiện độc lập, doanh nghiệp trong nước có thể liên danh, liên kết với đối tác nước ngoài để tích lũy kinh nghiệm và phát triển năng lực sản xuất. Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực và sự năng động, vấn đề là có được trao cơ hội hay không.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần được tiếp cận tín dụng với chi phí hợp lý để có vốn mua máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và triển khai đơn hàng. Ngân hàng Nhà nước cần có giải pháp điều hành để các ngân hàng chia sẻ lợi nhuận với doanh nghiệp thông qua giảm chi phí vốn, đưa lãi suất cho vay về mức phù hợp. Hệ thống ngân hàng cần phát huy vai trò cung ứng vốn, nuôi dưỡng sản xuất, kinh doanh, thay vì đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao trong lúc doanh nghiệp khó khăn.
Tóm lại, giảm chi phí đầu vào sẽ phát huy hiệu quả cao hơn khi doanh nghiệp đồng thời có đơn hàng, có vốn và điều kiện sản xuất hiệu quả. Đây là những yếu tố quyết định khả năng tận dụng chính sách hỗ trợ để phục hồi và phát triển.
– Theo ông, việc giảm chi phí và hỗ trợ nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cần được xem là một ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế?
TS.Huỳnh Thanh Điền: Cần nhìn nhận doanh nghiệp nhỏ và vừa như những mầm non của nền kinh tế. Một doanh nghiệp lớn hôm nay cũng từng khởi đầu từ quy mô nhỏ. Nếu không được chăm sóc, nuôi dưỡng và tạo điều kiện phát triển, các doanh nghiệp này rất khó lớn mạnh, thậm chí có thể bị đào thải trước khi kịp trưởng thành. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, bảo vệ doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời, doanh nghiệp lớn cũng cần có trách nhiệm dẫn dắt, kết nối các doanh nghiệp nhỏ hơn vào hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh.
Những định hướng như dành một phần cơ hội trong mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hỗ trợ tiếp cận tín dụng hay cung cấp phiếu hỗ trợ tư vấn, đào tạo, phát triển khoa học công nghệ đều cần thiết. Cơ chế phiếu hỗ trợ còn giúp doanh nghiệp chủ động lựa chọn dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực tế, thay vì áp dụng một chương trình chung cho tất cả.
Tuy nhiên, nhiều chính sách tương tự đã được đề cập trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị quyết 98 của Quốc hội, nhưng hiệu quả thực tế vẫn chưa rõ nét. Theo tôi, vấn đề lớn nhất không nằm ở việc thiếu chính sách mà ở khâu thực thi. Cần chuyển các định hướng thành chương trình hành động cụ thể, xác định rõ đối tượng thụ hưởng và cơ hội kinh doanh dành cho doanh nghiệp.
Chẳng hạn, nếu muốn phát triển ngành cơ khí, tự động hóa, Nhà nước cần xác định những hạng mục trong các dự án đầu tư công có thể giao cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời hình thành hệ sinh thái gồm doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp sản xuất chính và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Khi doanh nghiệp trong nước có đơn hàng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có cơ hội cung ứng linh kiện, nguyên vật liệu, dịch vụ và sản phẩm phụ trợ, qua đó nâng cao năng lực sản xuất.
Việc tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia các dự án không trái với thông lệ quốc tế, bởi nhiều quốc gia cũng có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều quan trọng là Nhà nước phải thiết kế cơ chế thực hiện phù hợp, minh bạch và hiệu quả, để chính sách hỗ trợ gắn trực tiếp với cơ hội sản xuất, kinh doanh thay vì chỉ dừng lại trên giấy.
Chuyển mạnh từ tư duy ban hành chính sách sang tổ chức thực thi
– Theo ông, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách hỗ trợ mà là cách thức triển khai các chính sách đó?
TS.Huỳnh Thanh Điền: Đúng vậy. Tôi cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy ban hành chính sách sang tư duy tổ chức thực thi. Không thể chỉ dừng lại ở việc có luật, có nghị quyết hay có chương trình hỗ trợ, mà phải xác định cụ thể dự án nào, lĩnh vực nào, cộng đồng doanh nghiệp nào sẽ được tham gia và được hưởng lợi.

Chẳng hạn, khi triển khai một dự án đầu tư công, Nhà nước cần xác định ngay từ đầu những doanh nghiệp trong nước có thể tham gia. Doanh nghiệp nào đóng vai trò dẫn dắt, doanh nghiệp nào sản xuất sản phẩm chính, doanh nghiệp nào cung cấp linh kiện, thiết bị và dịch vụ hỗ trợ. Khi đã hình thành được cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào dự án, các chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng, tư vấn, đào tạo và công nghệ mới có thể được triển khai đúng đối tượng.
Nếu chúng ta chỉ có dự án, có công trình nhưng để doanh nghiệp nước ngoài thực hiện phần lớn công việc thì doanh nghiệp trong nước không có cơ hội tích lũy năng lực. Ngay cả doanh nghiệp lớn trong nước cũng cần có cơ chế khuyến khích và trách nhiệm dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ hơn.
Tôi nhấn mạnh rằng doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể làm được nhiều công việc mà doanh nghiệp nước ngoài đang thực hiện. Vấn đề là chúng ta có trao cơ hội và tạo điều kiện để họ làm hay không. Khi có đơn hàng, có nguồn lực và được hỗ trợ đúng cách, doanh nghiệp trong nước sẽ có điều kiện đầu tư, nâng cao năng lực và phát triển.
– Theo ông, đâu là những chính sách nền tảng cần được duy trì ổn định trong trung và dài hạn để có thể hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế?
TS.Huỳnh Thanh Điền: Theo tôi, trước hết Chính phủ cần có định hướng rõ ràng về những ngành, lĩnh vực và cộng đồng doanh nghiệp trong nước muốn phát triển. Định hướng này cần được cụ thể hóa thông qua mua sắm công và đầu tư công, tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt tham gia cung ứng sản phẩm, thiết bị và thực hiện các hạng mục phù hợp trong các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ.
Với những dự án đòi hỏi năng lực cao, doanh nghiệp trong nước có thể liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài để từng bước hình thành năng lực sản xuất. Nhà nước cũng nên đóng vai trò khách hàng đầu tiên đối với các dự án khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo có tiềm năng, giúp doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm, hoàn thiện công nghệ và mở rộng thị trường.
Bên cạnh đó, cần hỗ trợ các doanh nghiệp lớn phát huy vai trò dẫn dắt, kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa vào chuỗi cung ứng. Quan trọng nhất là phải tạo việc làm, đơn hàng và cơ hội kinh doanh trước; các chính sách giảm thuế, phí, lãi suất hay hỗ trợ tín dụng sẽ là nguồn lực bổ trợ để doanh nghiệp phát triển.
Nếu thiếu định hướng dài hạn, chính sách rất dễ dừng ở việc thấy doanh nghiệp khó khăn ở đâu thì hỗ trợ ở đó. Các biện pháp miễn, giảm thuế có thể phát huy tác dụng trong một vài năm, nhưng không thể duy trì mãi. Điều cần hướng tới là trong thời gian được hỗ trợ, doanh nghiệp phải lớn mạnh, nâng cao năng lực sản xuất và có thị trường đủ vững để tự đứng vững khi chính sách ưu đãi kết thúc.
Cũng cần tính đến giới hạn ngân sách. Việc giảm thu, tăng chi có thể cần thiết trong những giai đoạn nhất định để kích thích tăng trưởng, nhưng phải tạo ra năng lực phát triển mới. Nếu hỗ trợ mà không thúc đẩy được doanh nghiệp lớn mạnh, nền kinh tế không có thêm động lực và nguồn thu ngân sách cũng khó được cải thiện. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của chính sách không phải là hỗ trợ doanh nghiệp mãi mãi, mà là tạo điều kiện để họ trưởng thành, mở rộng sản xuất và đóng góp trở lại cho nền kinh tế.
Xin cảm ơn ông
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/giam-gia-dien-va-xang-dau-hieu-qua-hon-khi-dn-tiep-can-von-de-dang-co-hoi-kinh-doanh-mo-rong-d153023.html.
