Cải cách thể chế tài chính, mở khóa nguồn lực tăng trưởng

by HDgroup
0 views

Theo các chuyên gia, cải cách thể chế tài chính phải trở thành trọng tâm, với những thay đổi thực chất trong tư duy quản lý, thủ tục hành chính và cơ chế thực thi, để tạo động lực mới cho doanh nghiệp, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Nhiều quy định còn chồng chéo, thiếu đồng bộ

Nhận diện những khó khăn của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng nút thắt lớn nhất đối với cộng đồng doanh nghiệp hiện nay không nằm ở nguồn lực mà ở thể chế và khâu tổ chức thực thi.

Dù hệ thống pháp luật đã từng bước được hoàn thiện, nhiều quy định vẫn còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; một số văn bản hướng dẫn được ban hành chậm, trong khi cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các bộ, ngành, địa phương chưa thống nhất, làm gia tăng chi phí tuân thủ và kéo dài thời gian xử lý thủ tục cho doanh nghiệp.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết qua tổng hợp ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, VCCI hiện ghi nhận khoảng 900 khó khăn, vướng mắc liên quan đến quá trình thực thi pháp luật.

Phần lớn các phản ánh không nằm ở việc thiếu quy định mà xuất phát từ cách tổ chức thực hiện. Nhiều quy định vẫn được hiểu và áp dụng khác nhau giữa các bộ, ngành và địa phương, khiến doanh nghiệp lúng túng trong quá trình thực hiện. Sự thiếu thống nhất trong quá trình thực thi khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian đi lại, bổ sung hồ sơ, thậm chí phải điều chỉnh phương án đầu tư để đáp ứng những yêu cầu phát sinh. Đây được xem là một trong những nguyên nhân làm tăng chi phí không chính thức, kéo dài thời gian triển khai dự án và làm giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, dư địa tăng trưởng lớn nhất của Việt Nam trong giai đoạn tới không nằm ở việc mở rộng thêm các nguồn lực truyền thống mà chính là cải cách thể chế, trong đó cải cách thể chế tài chính giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Khi những rào cản về cơ chế được tháo gỡ, nguồn lực trong xã hội sẽ được khơi thông, tạo động lực cho khu vực doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, ông cho rằng cải cách thể chế không thể chỉ dừng ở việc cắt giảm một vài thủ tục hành chính, giảm một số giấy phép hay thu hẹp số lượng ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. “Điều quan trọng hơn là phải thay đổi cách tiếp cận: từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo; từ tiền kiểm nặng nề sang hậu kiểm dựa trên rủi ro; từ ‘không quản được thì cấm’ sang quản lý thông minh, minh bạch và có trách nhiệm giải trình”, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia này, chỉ khi cải cách được thực hiện theo hướng thực chất, đồng bộ và nhất quán từ Trung ương đến địa phương, môi trường kinh doanh mới thực sự thông thoáng, chi phí tuân thủ mới được cắt giảm và niềm tin của doanh nghiệp mới được củng cố. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để khu vực tư nhân phát huy vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Đồng quan điểm, trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng Ban Phát triển doanh nghiệp và môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế – Tài chính, cho rằng quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của Chính phủ đang được thể hiện mạnh mẽ hơn bao giờ hết và đây chính là một trong những động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.

Theo bà Thảo, tăng trưởng kinh tế bền vững không thể chỉ dựa vào đầu tư công mà phải được dẫn dắt bởi khu vực doanh nghiệp. Các động lực quan trọng như đầu tư tư nhân, xuất khẩu hay tiêu dùng đều gắn chặt với sức khỏe và năng lực phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, cải thiện môi trường kinh doanh không chỉ là một nhiệm vụ cải cách hành chính mà còn là điều kiện tiên quyết để khơi thông các nguồn lực cho nền kinh tế.

“Muốn tăng trưởng, phải dựa vào doanh nghiệp. Đầu tư công chỉ là một phần, còn đầu tư tư nhân, xuất khẩu, tiêu dùng… đều gắn với khu vực doanh nghiệp. Vì vậy, môi trường kinh doanh chưa bao giờ hết quan trọng”, bà Thảo nhấn mạnh.

Đánh giá về tiến trình cải cách, bà cho biết đã có thời điểm nội dung cải cách điều kiện kinh doanh không còn được quan tâm đúng mức, thậm chí có dấu hiệu chững lại. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chương trình cải cách đang được “kích hoạt trở lại” với quyết tâm chính trị rất cao từ Chính phủ, mở ra kỳ vọng về một làn sóng cải cách mới theo hướng thực chất và hiệu quả hơn.

Dẫu vậy, theo bà Thảo, để những chủ trương này thực sự tạo chuyển biến trong môi trường kinh doanh, quá trình cải cách cần được triển khai trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng, lựa chọn đúng những “điểm nghẽn” có tác động lớn đến cộng đồng doanh nghiệp. Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh hay thủ tục hành chính không nên chạy theo số lượng mà phải tập trung vào chất lượng, ưu tiên xử lý những quy định đang gây ách tắc cho nhiều doanh nghiệp hoặc tạo ra chi phí tuân thủ lớn trong thực tế.

Theo vị chuyên gia, thước đo của cải cách không phải là đã cắt giảm được bao nhiêu điều kiện kinh doanh, mà là doanh nghiệp có thực sự tiết kiệm được thời gian, chi phí và có thêm động lực để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh hay không. Chỉ khi đi sâu vào nội hàm của từng quy định và giải quyết được những bất cập trong thực thi, cải cách môi trường kinh doanh mới tạo ra những thay đổi thực chất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhiều tiến triển trong cắt giảm điều kiện kinh doanh

Theo TS. Nguyễn Minh Thảo, từ năm 2019 đến nay, Việt Nam chưa thực hiện một đợt rà soát, đánh giá tổng thể đối với danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Mặc dù Luật Đầu tư sửa đổi thời gian gần đây đã điều chỉnh một số quy định, như thu hẹp phạm vi kinh doanh vàng có điều kiện khi loại trừ vàng trang sức, mỹ nghệ khỏi danh mục, song những thay đổi này mới chỉ mang tính cục bộ, chưa phản ánh đầy đủ bức tranh cải cách.

Vị chuyên gia cũng cho rằng, quá trình rà soát không nên chỉ dựa vào báo cáo của các bộ, ngành mà cần có sự tham gia của các chuyên gia độc lập và những người am hiểu thực tiễn từng lĩnh vực. Theo bà, cơ quan xây dựng pháp luật có thể đánh giá quy định có phù hợp với pháp luật hay không, nhưng việc xác định một điều kiện kinh doanh có thực sự cần thiết hay không phải dựa trên góc nhìn của các chuyên gia chuyên ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

“Muốn đánh giá đúng, phải có chuyên gia từng ngành. Cơ quan pháp lý chỉ xác định quy định đó hợp pháp hay không, còn cần hay không thì phải do chuyên gia thực tiễn trả lời”, bà Thảo nhấn mạnh. Dẫn lại kinh nghiệm giai đoạn 2016, khi còn công tác tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), bà Thảo cho biết nhóm nghiên cứu đã mất khoảng một năm rưỡi để rà soát gần 6.000 điều kiện kinh doanh. Kết quả cho thấy khoảng 3.000 điều kiện là không cần thiết hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, tạo cơ sở khoa học cho chương trình cắt giảm khoảng 50% điều kiện kinh doanh sau đó.

Theo bà, quá trình cắt giảm khi đó không được thực hiện theo cảm tính mà dựa trên hệ thống tiêu chí rõ ràng, từ yêu cầu về vốn, nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật đến tính cần thiết của từng điều kiện đối với mục tiêu quản lý nhà nước. Chính cách tiếp cận dựa trên bằng chứng này đã giúp chương trình cải cách có tính thuyết phục và tạo được sự đồng thuận cao.

Từ thực tiễn đó, TS. Nguyễn Minh Thảo cho rằng mục tiêu tiếp tục cắt giảm từ 30% đến 50% điều kiện kinh doanh hiện nay là hoàn toàn cần thiết, nhưng phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá khoa học và minh bạch.

Để cải cách thể chế tài chính thực sự trở thành động lực giải phóng nguồn lực phát triển, theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó Chủ nhiệm văn Phòng Quốc hội, điều quan trọng nhất là Chính phủ phải chuyển trọng tâm từ việc ban hành chính sách sang quản trị quá trình thực thi chính sách.

Theo ông, cải cách chỉ tạo ra giá trị khi những thay đổi trên văn bản được triển khai đồng bộ và mang lại hiệu quả thực chất cho người dân, doanh nghiệp.

“Trước hết, cần xây dựng hệ thống giám sát theo thời gian thực dựa trên dữ liệu số. Mỗi thủ tục được cắt giảm, mỗi quy trình được đơn giản hóa phải được theo dõi bằng các chỉ số cụ thể như thời gian xử lý, chi phí tuân thủ hay mức độ hài lòng của doanh nghiệp. Khi có dữ liệu minh bạch và cập nhật liên tục, cơ quan quản lý sẽ sớm phát hiện các điểm nghẽn phát sinh để kịp thời điều chỉnh”, TS Nguyễn Sĩ Dũng nói với Tạp chí Đầu tư Tài chính.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng, gắn với kết quả đầu ra. Việc phân cấp phải đi đôi với phân quyền và xác định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Hiệu quả cải cách cần được đánh giá bằng những thay đổi thực chất, như thủ tục có nhanh hơn, đơn giản hơn và chi phí tuân thủ có giảm hay không, thay vì chỉ dựa trên việc hoàn thành quy trình.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính thống nhất trong thực thi trên phạm vi cả nước. Theo ông, một chủ trương cải cách dù đúng đắn đến đâu cũng sẽ mất ý nghĩa nếu mỗi địa phương hiểu và áp dụng theo một cách khác nhau. Vì vậy, cần có cơ chế hướng dẫn thống nhất, kiểm tra thường xuyên và xử lý nghiêm những trường hợp làm sai hoặc làm chậm tinh thần cải cách.

Theo vị chuyên gia, thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở khâu thiết kế chính sách mà ở việc đưa chính sách vào cuộc sống. Chỉ khi bảo đảm được tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự thống nhất trong thực thi, cải cách thể chế tài chính mới có thể thực sự giải phóng nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

Nguồn : https://vietnamfinance.vn/cai-cach-the-che-tai-chinh-mo-khoa-nguon-luc-tang-truong-d148937.html.

You may also like