Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công, giảng viên Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng dư địa tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn rất lớn, song để hiện thực hóa mục tiêu này, cần khơi thông các động lực trong nước, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy tối đa vai trò của khu vực kinh tế tư nhân.

Cần tháo gỡ thực chất các điểm nghẽn về thể chế
– Nhìn lại bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm, ông đánh giá đâu là điểm nhấn đáng chú ý nhất ngoài con số tăng trưởng cao?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Điều tôi đánh giá cao nhất không chỉ là tốc độ tăng trưởng mà là việc Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thế giới còn rất nhiều biến động. 6 tháng đầu năm, nền kinh tế phải đối mặt với hàng loạt cú sốc từ bên ngoài như căng thẳng địa chính trị, xung đột tại Trung Đông, chi phí logistics và giá năng lượng biến động mạnh.
Trong bối cảnh đó, ổn định kinh tế vĩ mô đã thực sự trở thành “mỏ neo” giúp Chính phủ duy trì dư địa chính sách để thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối năm. Quan trọng hơn, chính sự ổn định này đã củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế.
Điều đó được phản ánh qua dòng vốn FDI thực hiện đạt hơn 13 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay, trong khi vốn đăng ký mới tăng hơn 60% so với cùng kỳ năm trước. Theo quan điểm của chúng tôi, chất lượng tăng trưởng chỉ có thể bền vững khi được đặt trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô.
– Theo ông, đâu là những yếu tố tạo nên kết quả này?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng có ba yếu tố quan trọng. Thứ nhất là sự điều hành rất quyết liệt và linh hoạt của Chính phủ, đặc biệt trong tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Đây là yếu tố quan trọng giúp củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Thứ hai là vai trò dẫn dắt của đầu tư công. Những năm gần đây, Chính phủ đã tập trung nguồn lực cho các công trình hạ tầng chiến lược. Đây không chỉ là động lực tăng trưởng ngắn hạn mà còn tạo nền tảng để thu hút đầu tư tư nhân và FDI trong dài hạn. Thứ ba là các chính sách tài khóa mở rộng được triển khai đúng thời điểm, từ giảm thuế, phí đến tháo gỡ khó khăn về chính sách cho doanh nghiệp. Những giải pháp này đã góp phần giảm áp lực chi phí và tạo thêm niềm tin cho khu vực doanh nghiệp.
– Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng gần 12% trong 6 tháng cuối năm. Vậy theo ông, đâu sẽ là những động lực quan trọng nhất?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Theo tôi, động lực lớn nhất vẫn phải đến từ khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị đã xác định rất rõ kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Vì vậy, điều cần làm lúc này là tháo gỡ thực chất các điểm nghẽn về thể chế, khơi thông dòng vốn và quan trọng nhất là khôi phục niềm tin đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các động lực truyền thống vẫn còn dư địa như xuất khẩu công nghệ cao, phục hồi du lịch quốc tế, phát triển dịch vụ logistics, nông nghiệp và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Nếu các động lực này được phát huy đồng thời, mục tiêu tăng trưởng cao hoàn toàn có cơ sở.
– Ông đánh giá thế nào về yêu cầu giải ngân 100% vốn đầu tư công?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng đây sẽ là động lực rất quan trọng cho tăng trưởng. Điều đáng ghi nhận là Chính phủ hiện nay không chỉ giao chỉ tiêu mà còn theo dõi tiến độ hàng tuần, hàng tháng.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là giải ngân phải đi cùng hiệu quả. Tôi rất đồng tình với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc kiên quyết điều chuyển vốn từ những dự án giải ngân chậm sang những nơi làm tốt hơn.
Thông điệp này cho thấy trách nhiệm giải trình đã được đặt lên hàng đầu. Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng vốn đầu tư công bị “đóng băng” chỉ vì tâm lý sợ sai hay thiếu quyết đoán trong bộ máy thực thi. Đầu tư công chỉ phát huy vai trò “vốn mồi” khi được triển khai đúng tiến độ và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với đầu tư tư nhân.

Điều doanh nghiệp cần nhất là niềm tin
– 6 tháng đầu năm có hơn 170.000 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường, nhưng cũng có hơn 150.000 doanh nghiệp rút lui. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Đây là hai con số rất đáng suy nghĩ. Một mặt, điều đó cho thấy sức sống của khu vực doanh nghiệp vẫn rất mạnh. Nhưng mặt khác cũng phản ánh sự cạnh tranh và sàng lọc ngày càng khốc liệt.
Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất hiện nay không chỉ là vốn mà là niềm tin. Doanh nghiệp phải cảm thấy quyền tự do kinh doanh được bảo vệ, môi trường cạnh tranh minh bạch và chính sách ổn định thì mới dám đầu tư dài hạn.
Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính theo hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm chi phí tuân thủ và loại bỏ các rào cản không cần thiết sẽ có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều so với các gói hỗ trợ ngắn hạn. Bên cạnh đó, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, kích cầu tiêu dùng và kết nối với các chuỗi giá trị mới.
– Theo ông, những áp lực lớn nhất đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số là gì?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng có ba nhóm thách thức.
Thứ nhất là áp lực lạm phát. Mặc dù CPI được kiểm soát nhưng lạm phát cơ bản vẫn ở mức cao, cho thấy áp lực giá cả chưa thực sự giảm.
Thứ hai là nhập siêu và sức ép lên tỷ giá. Sáu tháng đầu năm Việt Nam nhập siêu khá lớn, trong khi cán cân dịch vụ cũng tiếp tục thâm hụt. Điều này sẽ tạo áp lực lên dự trữ ngoại hối và ổn định tài chính.
Thứ ba là những bất định của kinh tế thế giới, từ xung đột địa chính trị đến các cuộc cạnh tranh thương mại và công nghệ. Tuy nhiên, theo tôi, khó khăn lớn nhất vẫn là cải cách thể chế phải thực chất.
Nếu chỉ tháo gỡ ở một khâu nhưng lại phát sinh thêm rào cản ở khâu khác thì doanh nghiệp vẫn phải gánh thêm chi phí tuân thủ, thậm chí phát sinh các chi phí không chính thức. Đó mới là điều đáng lo ngại nhất.
– Với việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, theo ông vai trò của địa phương sẽ đóng góp thế nào vào tốc độ tăng trưởng?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng giai đoạn tới, năng lực thực thi của chính quyền địa phương sẽ đóng vai trò quyết định.
Trung ương đã giao mục tiêu rất rõ, nhưng kết quả cuối cùng phụ thuộc vào việc địa phương có chủ động cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp và triển khai các chương trình phát triển kinh tế hay không. Những địa phương có năng lực điều hành tốt, cải cách hành chính mạnh và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi chắc chắn sẽ trở thành đầu tàu tăng trưởng.
Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, địa phương cũng cần đặc biệt quan tâm đến an sinh xã hội và sinh kế của người dân. Tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/on-dinh-kinh-te-vi-mo-la-mo-neo-de-viet-nam-tang-toc-d148215.html.
