Lãi suất cao, dòng vốn dịch chuyển khỏi thị trường mới
Ngày 16/9, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất điều hành từ 3,5 – 3,75%/năm lên 3,75 – 4%/năm. Đây là lần tăng đầu tiên Fed tăng lãi suất sau hơn 3 năm và đảo chiều so với giai đoạn nới lỏng 2024 – 2025 (khi Fed đã hạ tổng cộng 1,75 điểm % sau 6 lần hạ lãi suất).
Chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, mặt bằng lãi suất cao tại Mỹ và châu Âu đang thúc đẩy dòng vốn quốc tế dịch chuyển khỏi các thị trường mới nổi, gây thêm áp lực lên tỷ giá, chi phí vốn và khả năng huy động vốn quốc tế của Việt Nam. Trong bối cảnh nguồn vốn giá rẻ không còn thuận lợi, Việt Nam cần đẩy nhanh đa dạng hóa các kênh huy động vốn dài hạn.

Một tác động dễ dự đoán là khi lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao khiến Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam khó phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế hơn, do nhà đầu tư yêu cầu lợi suất cao hơn để bù đắp rủi ro, trong khi xếp hạng tín nhiệm quốc gia chưa đạt chuẩn đầu tư.
“Dòng vốn quốc tế dịch chuyển cũng gây sức ép lên tỷ giá USD/VND. Đồng USD mạnh lên làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, xăng dầu quy đổi sang tiền đồng, qua đó tạo thêm rủi ro lạm phát. Tỷ giá tăng có thể hỗ trợ xuất khẩu nhưng đồng thời khiến chi phí đầu vào nhập khẩu cao hơn, do đó Việt Nam cần cân đối hai tác động này trong điều hành”, ông Hiếu nói.
Ở chiều tích cực, việc FTSE Russell công bố việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi vào cuối tháng 9/2026 có thể tạo thêm động lực thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, phần nào bù đắp áp lực từ xu hướng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu.
Trong nước, đến cuối tháng 8, tiền gửi tăng 8,77%, vượt tốc độ tăng trưởng tín dụng 8,38%, góp phần giảm áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, theo TS.Nguyễn Trí Hiếu, lãi suất cho vay vẫn khó giảm sâu khi lãi suất huy động 12 tháng tại nhiều ngân hàng lên tới 9%. Với biên lợi nhuận tối thiểu khoảng 3%, lãi suất cho vay khó xuống dưới 12% nếu chi phí huy động không giảm tương ứng.
“Đáng lưu ý, dư nợ tín dụng trên GDP đã lên tới 145%, trong khi tỷ lệ tín dụng trên vốn huy động ít nhất 115%, cao hơn đáng kể mức 85% được khuyến nghị. Mức độ phụ thuộc lớn vào ngân hàng trong cung ứng vốn dài hạn cho thấy Việt Nam cần tiếp tục phát triển các kênh vốn khác, qua đó tăng khả năng chống chịu của hệ thống tài chính trước các biến động bên ngoài”, ông Hiếu nói.
Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinace, TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia tài chính – ngân hàng cho rằng, việc Fed tăng lãi suất sẽ tác động đáng kể đến các dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, lợi suất tài sản tại Mỹ tăng cùng với xu hướng đồng USD mạnh lên có thể làm gia tăng yêu cầu về lợi suất đối với các tài sản tại Việt Nam. Điều này diễn ra trong bối cảnh nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng khoảng 92.000 tỷ đồng trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm 2026 đến nay.
Tuy nhiên, áp lực từ xu hướng dịch chuyển dòng vốn có thể được bù đắp một phần nếu dòng vốn mới gia tăng sau khi FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026.
Theo TS. Cấn Văn Lực, một yếu tố cần tiếp tục theo dõi là dư nợ cho vay ký quỹ trên thị trường chứng khoán hiện khoảng 450.000 tỷ đồng, khiến thị trường nhạy cảm hơn trước các biến động tài chính bên ngoài.
Với dòng vốn FDI, tác động của việc Fed tăng lãi suất thường xuất hiện chậm hơn do quyết định đầu tư trực tiếp phụ thuộc chủ yếu vào triển vọng dài hạn, vị trí trong chuỗi cung ứng, chi phí sản xuất và môi trường đầu tư. Dù vậy, nếu chi phí vốn quốc tế duy trì ở mức cao trong thời gian dài, một số quyết định đầu tư mới có thể bị trì hoãn, đồng thời tiến độ giải ngân các dự án cũng có thể chịu ảnh hưởng.
Dòng vốn quốc tế chịu tác động từ chính sách tiền tệ
Để đáp ứng nhu cầu vốn khoảng 38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030, trong khi ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%, Việt Nam cần giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và đa dạng hóa các nguồn vốn dài hạn.

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, cần phát triển đồng bộ thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư. Việt Nam cũng có thể nghiên cứu mô hình quỹ hưu trí tư nhân, trong đó người lao động đóng 3 – 5% tiền lương và doanh nghiệp đóng góp tương ứng, tạo nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, ông đề xuất nghiên cứu chứng khoán hóa các khoản cho vay dài hạn hoặc tài sản bất động sản, giúp ngân hàng thu hồi vốn để tiếp tục cho vay. Hệ thống ngân hàng cũng có thể được phân định theo hướng ngân hàng thương mại tập trung vào vốn ngắn, trung hạn, còn ngân hàng đầu tư đảm nhiệm nguồn vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng lớn.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng nên yêu cầu các doanh nghiệp phát hành từ một quy mô nhất định phải có xếp hạng tín nhiệm độc lập, qua đó tăng minh bạch và giảm rủi ro cho nhà đầu tư.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp, cần tăng năng lực tài chính cho các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương để cải thiện khả năng tiếp cận vốn. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn cần chủ động xây dựng cơ cấu vốn và phương án tài chính, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng.
Theo ông Hiếu, khi nguồn vốn giá rẻ không còn thuận lợi như trước, việc phát triển thị trường vốn dài hạn và mở rộng vai trò của các nguồn vốn tổ chức sẽ là yêu cầu quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Về phần mình, TS. Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị. Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa để giữ ổn định lãi suất, tỷ giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng; đồng thời xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động từ chính sách của Fed và các ngân hàng trung ương lớn.
Thứ hai, điều hành giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý theo lộ trình phù hợp, tránh điều chỉnh dồn dập, đồng thời tăng cường bình ổn và truyền thông để hạn chế tâm lý lo ngại lạm phát.
Thứ ba, theo dõi nghĩa vụ nợ nước ngoài, chủ động điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối, đặc biệt lưu ý nhóm doanh nghiệp vay ngoại tệ lớn.
Cuối cùng, tăng giám sát rủi ro tài chính và dòng vốn, nhất là tỷ giá, vốn đầu tư gián tiếp, dư nợ ký quỹ và nguy cơ bán giải chấp; đồng thời tận dụng cơ hội nâng hạng thị trường chứng khoán để thu hút dòng vốn trung, dài hạn.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/von-quoc-te-ngay-cang-dat-do-viet-nam-can-mo-them-kenh-dan-nguon-dai-han-d150757.html.
