
– Ông đánh giá công nghiệp hoá của Việt Nam đang ở quy mô và trình độ như thế nào?
GS Trần Văn Thọ: Có hai vấn đề của quá trình công nghiệp hoá tại Việt Nam. Thứ nhất là công nghiệp hóa vẫn còn ở mức thấp nên năng suất lao động của toàn nền kinh tế không cao. Ở những nước đã phát triển thành công, khu vực công nghiệp thường chiếm trên 30% GDP vào nửa đầu của giai đoạn dân số vàng. Nhưng với Việt Nam, đã qua hơn 4/5 của giai đoạn dân số vàng (chỉ còn độ 6-7 năm) mà tỷ lệ của khu vực công nghiệp trong GDP nhỏ hơn nhiều so với tỷ lệ của các nước châu Á trong cùng giai đoạn.
Thứ hai là công nghiệp hóa của Việt Nam có tính chất mỏng, không sâu, tuy tham gia ngày càng mạnh vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng chủ yếu mới ở vị trí là công xưởng lắp ráp, gia công. Tính chất này phản ảnh trên cơ cấu ngoại thương và cán cân mậu dịch. Việt Nam nhập sản phẩm trung gian như linh kiện, sản phẩm bán chế từ Trung Quốc và Hàn Quốc, xuất khẩu hàng gia công lắp ráp sang Mỹ. Việt Nam xuất siêu nhiều với Mỹ nhưng nhập siêu lớn với Trung Quốc và Hàn Quốc.
Tỷ trọng thấp của công nghiệp trong GDP và tính chất gia công lắp ráp là hai đặc tính của công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay. Hai đặc tính này làm hạn chế tăng trưởng của năng suất lao động.
– Vậy theo ông, hướng khắc phục nên như thế nào?
GS Trần Văn Thọ: Theo tôi cần tích cực tiến hành công nghiệp hóa cả chiều rộng và chiều sâu. Công nghiệp hóa theo chiều rộng là mở rộng quy mô sản xuất và xuất khẩu những ngành đã có hoặc phát triển những ngành mới. Với những ngành đã có như ô tô, máy tính, bán dẫn, thực phẩm… nhu cầu trong và ngoài nước sẽ tăng nhanh nên nếu Việt Nam tăng năng lực cạnh tranh thì sẽ mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Ngoài ra, nếu môi trường kinh doanh thuận lợi, pháp luật, chính sách rõ ràng, doanh nghiệp sẽ tích cực đầu tư vào những lĩnh vực mới mà họ khám phá qua hoạt động nghiên cứu triển khai.
Công nghiệp hóa theo chiều sâu là tránh tình trạng lắp ráp, gia công bằng cách đẩy mạnh sản xuất thay thế các sản phẩm trung gian đang nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Dĩ nhiên là không thể và không cần thay thế tất cả trong ngắn hạn hay trung hạn, nhưng cần có chiến lược, chính sách ngay bây giờ để thực hiện từng bước, trước hết là có chính sách phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. Ngành công nghiệp hỗ trợ rất quan trọng cho công nghiệp hóa, nhà nước cần quan tâm đưa ra các chính sách và theo dõi việc thực thi một cách mạnh mẽ.
– Nhấn mạnh công nghiệp hóa nhưng nông nghiệp vẫn quan trọng đối với Việt Nam. Trong tương lai quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp sẽ như thế nào?
GS Trần Văn Thọ: Công – nông nghiệp phải đồng thời phát triển. Thực phẩm là công nghiệp nhưng nguyên liệu là từ nông thủy sản. Việt Nam mạnh về nông nghiệp nhưng về công nghiệp thực phẩm thì còn rất yếu. Trên thị trường thế giới, năm 2023, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba, cà phê thứ hai, hạt điều và hạt tiêu thứ nhất. Tuy nhiên, Việt Nam lại nhập khẩu nhiều thực phẩm chế biến. Nói chung, Việt Nam vẫn còn là nước nhập siêu thực phẩm..
Những nước thành công trong phát triển kinh tế đều chú trọng phát triển nông nghiệp. “Nông nghiệp phát triển” gồm 3 nội dung. Thứ nhất là tăng năng suất lao động và năng suất đất canh tác của nông sản. Thứ hai là tăng phẩm chất của nông sản và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp theo hướng ngày càng tăng tỷ trọng của những mặt hàng có giá trị cao, có nhu cầu cao trên thị trường trong nước và thế giới. Đây là nội dung của cụm từ “nông nghiệp chất lượng cao” mà gần đây được nói đến nhiều ở Việt Nam và các nước. Thứ ba là kết hợp nông nghiệp với công nghiệp hóa, chế biến các loại nông phẩm thành hàng công nghiệp thực phẩm chất lượng cao, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu. Ở giai đoạn thứ ba này, nông nghiệp cùng với thủy sản, hải sản cung cấp nguyên liệu bảo đảm chất lượng cho một bộ phận quan trọng của công nghiệp.
Quá trình phát triển nông nghiệp gồm 3 bước ấy cũng là quá trình cải thiện không ngừng các cơ chế, cách tổ chức và áp dụng công nghệ trong sản xuất, lưu thông phân phối.
Nói thêm về giai đoạn thứ ba, hiện nay, 10 nước xuất khẩu nhiều nhất nông sản và thực phẩm hầu hết là những nước tiên tiến, đứng đầu là Mỹ và thứ 10 là Bỉ. Xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Bỉ và xếp thứ 4 trong các nước ASEAN. Từ thực trạng này ta thấy Việt Nam chưa phát huy thế mạnh của tài nguyên nông thủy sản, chưa kết hợp nông thủy sản với công nghiệp. Nhà nước cần rà soát lại các kế hoạch đã có như sản xuất lớn nông nghiệp và nông nghiệp chất lượng cao, đồng thời đẩy mạnh đầu tư (kể cả kêu gọi FDI và khuyến khích doanh nghiệp lớn tham gia) vào các chuỗi cung ứng thực phẩm.

– Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh về địa chính trị kinh tế, Việt Nam nên lựa chọn chiến lược phát triển và hội nhập nào để vừa tận dụng cơ hội, vừa giảm thiểu rủi ro, thưa ông?
GS Trần Văn Thọ: Đúng là trật tự kinh tế thế giới đã thay đổi lớn. Thế giới từ nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Donald Trump ở Mỹ đã bước vào thời đại mà thương mại quốc tế bị quản lý, bị định hướng. Hơn nữa, chính sách quan thuế của ông Trump rất tùy tiện, có thể thay đổi tùy theo diễn biến của kinh tế chính trị Mỹ. Do đó, trật tự thế giới đang đối diện với sự bất xác định. Ngoài ra, chiến tranh và bất ổn về an ninh tại nhiều nước làm cho độ rủi ro của thị trường thế giới tăng mạnh. Các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển, cấu trúc lại chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong thời gian qua Việt Nam hội nhập nhanh và sâu vào kinh tế thế giới. Tỷ lệ của xuất nhập khẩu/GDP đã tăng từ 110% năm 2010 lên 170% năm 2024. Đó là tỷ lệ rất cao của một nước có trên 100 triệu dân. Ngoài ra, Việt Nam vừa hội nhập sâu vừa nghiêng về hai nền kinh tế lớn nhất: xuất khẩu tùy thuộc nhiều vào thị trường Mỹ và nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc. Xuất khẩu vào thị trường Mỹ so với GDP lên tới trên 30% và nhập từ Trung Quốc so với GDP lên tới 35%. Cả hai chỉ tiêu đều tăng nhanh so với năm 2010 và ở mức rất cao so với các nước khác ở Á châu.
Từ những nhận định và phân tích ở trên, ta thấy Việt Nam cần thay đổi mô hình tăng trưởng và hội nhập, cần tích cực có các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cụ thể, thứ nhất, để kinh tế phát triển trong ổn định, Việt Nam cần tăng trưởng dựa vào nội nhu hơn. Tuy vẫn tận dụng ngoại lực, tận dụng thị trường nước ngoài nhưng phần tăng trưởng dựa hơn vào nội nhu sẽ giảm bớt độ phụ thuộc vào bên ngoài. Với quy mô dân số hiện nay, thị trường trong nước cũng quan trọng. Chú trọng nội nhu, nhất là tăng tỷ lệ chi tiêu cá nhân cũng làm cho đời sống dân chúng chóng cải thiện trong quá trình tăng trưởng.
Thứ hai, thay đổi mô hình công nghiệp hóa theo hướng mở rộng, thâm sâu, cụ thể là có chính sách công nghiệp năng động, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ để giảm phụ thuộc vào Trung Quốc là nước đang là đối tượng tranh chấp với Mỹ.
Thứ ba, Việt Nam nên điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) theo hướng vừa thay đổi mô hình công nghiệp hóa nói trên vừa tránh rủi ro bị phê phán là nơi trung chuyển hàng xuất khẩu từ Trung Quốc. Những năm gần đây FDI từ Trung Quốc và Hồng Kông tăng mạnh nhưng phần lớn vẫn theo mô hình cũ của công nghiệp hóa Việt Nam. Mặt khác FDI từ Mỹ rất ít trong khi Mỹ đầu tư nhiều vào các nước ASEAN khác. Việt Nam cần thu hút FDI từ Mỹ nhiều hơn để tranh thủ công nghệ cao và tạo một thăng bằng giữa hai nước lớn. Như vậy sẽ góp phần cải thiện quan hệ kinh tế với Mỹ.
Thứ tư, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ. Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do và là thành viên của thị trường chung ASEAN nên còn nhiều dư địa để tăng xuất khẩu sang các thị trường này.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/cong-nghiep-hoa-viet-nam-trong-bien-dong-dia-chinh-tri-kinh-te-the-gioi-d140011.html.
