Nghị định 46: Phép thử với tổ chức thực thi chính sách
Khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, thách thức lớn nhất không nằm ở khát vọng mà ở năng lực thực thi. Tăng trưởng cao đòi hỏi một hệ thống thể chế đủ kỷ luật, có khả năng dự báo và chịu trách nhiệm với những tác động chính sách lên nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, mỗi nghị định, thông tư không chỉ là văn bản quản lý chuyên ngành, mà trở thành phép thử đối với năng lực tổ chức thực thi chính sách.
Việc Nghị định 46/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm vừa có hiệu lực đã gây ách tắc dòng chảy hàng hóa cho thấy đây không đơn thuần là một trục trặc kỹ thuật mà đặt ra cảnh báo rằng nếu quá trình làm chính sách không theo kịp nhịp vận động của thị trường, mục tiêu tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng.

Theo thống kê nhanh của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), riêng ngày 30/1 đã có hơn 1.300 phương tiện chở nông sản, thực phẩm bị ùn ứ tại các cửa khẩu đường bộ và đường thủy do chưa có kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm để thông quan. Con số này phản ánh mức độ tác động tức thời của một văn bản vừa ban hành.
Đáng chú ý, trong tình huống này rất khó quy trách nhiệm cho một cá nhân hay đơn vị cụ thể. Doanh nghiệp không kịp hoàn thiện hồ sơ vì thiếu thời gian chuẩn bị. Đơn vị kiểm tra chuyên ngành lúng túng vì chưa có hướng dẫn chi tiết. Hải quan không thể cho thông quan khi chưa đủ căn cứ pháp lý. Mỗi khâu đều vận hành đúng quy trình của mình.
Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, ông Nguyễn Huy Nghĩa, Giám đốc Công ty TNHH Tiếp vận Nội Bài cho biết, đến thời điểm này chi phí lưu kho đã tăng rất lớn, trong khi chất lượng hàng hóa nguy cơ suy giảm.
“Theo phản ánh của một số khách hàng, nhiều lô hàng khi nhận về gần như không còn khả năng sử dụng, thậm chí phải bỏ đi. Nếu tình trạng tồn đọng tiếp tục kéo dài, hàng hóa có nguy cơ không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm, buộc phải tiêu hủy hoặc tiếp tục lưu kho, kéo theo tổn thất và chi phí khắc phục rất lớn”, ông Nghĩa nói.
Theo ông Nghĩa, các doanh nghiệp nhập khẩu cá hồi đang chịu thiệt hại nặng nề nhất. Riêng số hàng tồn mà công ty ông đang xử lý tạm tính gần 30 tấn, với giá trị khoảng 524,88 triệu đồng, chưa kể thiệt hại của các doanh nghiệp và đơn vị dịch vụ khác.
Ông cũng cho biết thêm, hiện cơ quan kiểm tra chuyên ngành đã yêu cầu nộp bản cứng hồ sơ điều kiện an toàn thực phẩm, nhưng việc chuẩn bị khó có thể hoàn tất trong ngày do phải qua nhiều khâu ký tá từ phía doanh nghiệp. Trong khi đó, phương thức kiểm tra vẫn chưa thống nhất là kiểm tra giảm hay kiểm tra chặt. Nếu áp dụng kiểm tra chặt, thời gian chờ kết quả có thể kéo dài từ 7–10 ngày. Phía hải quan cũng thông báo chỉ khi có kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm mới cho phép thông quan.
Đáng buồn, câu chuyện của ông Nghĩa hay câu chuyện về các doanh nghiệp gặp khó với Luật Hoá chất vì thiếu hướng dẫn… lại chỉ là một trong những ví dụ điển hình cho tình trạng này.
Một nhóm hàng 3 bộ cùng quản?
Ông Nguyễn Đình Cung, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho biết, trung bình mỗi năm Quốc hội ban hành khoảng 20 luật; Chính phủ ban hành khoảng 100 nghị định; các bộ, ngành ban hành từ 600 – 700 thông tư; chưa kể hàng nghìn văn bản điều hành. Riêng Văn phòng Chính phủ mỗi năm phát hành khoảng 3.500 – 4.000 văn bản.

Đáng chú ý, năm 2025 được xem là giai đoạn cải cách pháp lý mạnh mẽ khi Quốc hội thông qua số lượng lớn luật và dự án luật, các nguồn ghi nhận từ 86 – 89 luật, trong đó riêng Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua 51 luật. Nội dung điều chỉnh trải rộng các lĩnh vực kinh tế, tài chính, công nghệ, an ninh – quốc phòng.
Theo ông Cung, cấu trúc hệ thống văn bản hiện nay tạo ra nhiều tầng nấc trung gian. Thông thường một luật kéo theo khoảng 10 nghị định hướng dẫn; mỗi nghị định lại có 6 – 7 thông tư quy định chi tiết. Như vậy, một luật có thể liên quan tới hàng chục, thậm chí hàng trăm văn bản dưới luật. Trong khi luật tương đối ổn định, nghị định và đặc biệt là thông tư có thể thay đổi thường xuyên, làm gia tăng tính bất định của môi trường pháp lý.
Tính bất định này càng rõ khi một vấn đề có thể do 3–4 bộ cùng quản lý. Quy định của bộ này có thể chưa tương thích với bộ khác; thông tư ban hành sau có thể khác với thông tư trước; văn bản hướng dẫn lại phụ thuộc nhiều vào cách hiểu và thẩm quyền của cơ quan ban hành.
Theo ông Cung, chính sự chồng chéo và thay đổi liên tục ở tầng văn bản dưới luật khiến quá trình thực thi chính sách thiếu ổn định, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc dự báo và tuân thủ.
Quay trở lại với câu chuyện của Nghị định 46, trước áp lực ùn ứ, một số địa phương buộc phải xử lý theo hướng “linh hoạt” để giải phóng hàng hóa. Thực ra, đây là phản ứng tình thế rất cần thiết nhưng nếu việc áp dụng pháp luật cứ “du di”, mỗi nơi một cách, mỗi lúc một kiểu, thì tiền lệ tạo ra sẽ rất rủi ro. Khi doanh nghiệp không còn một chuẩn mực pháp lý ổn định để bám vào, môi trường kinh doanh dễ bị chi phối bởi cơ chế “xin – cho” và các chi phí không chính thức.
Văn bản hướng dẫn phải được chuẩn bị song song với luật
Để giải quyết vấn đề này, TS Nguyễn Đình Cung nhìn nhận đây là bài toán khó, không thể xử lý trong ngày một ngày hai. Tuy vậy, vẫn có những hướng đi cần kiên trì thực hiện.
Trước hết, việc áp dụng pháp luật phải dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng, bởi nguyên tắc là cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép. Khi phát sinh vướng mắc, doanh nghiệp và giới chuyên gia cần rà soát kỹ các quy định liên quan để làm căn cứ trao đổi, bảo vệ quan điểm đến cùng. Với những khoảng trống hoặc điểm chưa minh định, nên lựa chọn cách hiểu theo hướng thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó, quá trình lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần được thực hiện thực chất, thường xuyên, tránh tình trạng chính sách thay đổi đột ngột gây sốc cho thị trường. Các loại giấy phép kinh doanh cũng nên có thời hạn đủ dài hoặc ổn định hơn, nhằm tạo môi trường đầu tư có thể dự báo.
“Quan trọng hơn cả là phải nâng cao trách nhiệm của cơ quan soạn thảo. Những quy định tạo thêm rào cản, gây khó cho doanh nghiệp cần được rà soát nghiêm túc, đồng thời chấn chỉnh tình trạng ban hành các thông báo, hướng dẫn vượt thẩm quyền. Chỉ khi kỷ luật chính sách được siết chặt, cải cách mới thực sự đi vào chiều sâu và môi trường kinh doanh mới được cải thiện bền vững.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLAW, cho rằng từ vụ việc này có thể rút ra một số bài học trong xây dựng và ban hành pháp luật.
Trước hết, văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị song song với luật, thay vì coi là khâu “hậu ban hành”. Một đạo luật có hiệu lực trên giấy tờ nhưng thiếu nghị định, thông tư hướng dẫn thì khó có thể triển khai suôn sẻ trong thực tế.
Thứ hai, với những chính sách có thay đổi lớn, cần thiết kế rõ quy định chuyển tiếp và cơ chế áp dụng tạm thời, bảo đảm tính thống nhất trong thực thi, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu một cách hoặc chọn giải pháp “đứng lại” để an toàn.
Cuối cùng, quá trình soạn thảo cần tham vấn thực chất cộng đồng doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động trực tiếp. Lắng nghe sớm sẽ giúp nhận diện rủi ro thực thi và hạn chế khoảng trống pháp lý khi chính sách đi vào cuộc sống.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/tu-ach-tac-nghi-dinh-46-them-1-phep-thu-nang-luc-thuc-thi-chinh-sach-d139709.html.
