Tại hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế – Định hình dòng vốn thế hệ mới” do Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) và Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) tổ chức, câu chuyện sandbox là một trong những vấn đề được các chuyên gia tập trung “mổ xẻ”.

TS. Nguyễn Đức Hiển – Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh, trong tiến trình hoàn thiện thể chế cho Trung tâm Tài chính quốc tế, một trong những nội dung quan trọng nhất cần tiếp tục được thúc đẩy là cơ chế sandbox.
Hiện nay Việt Nam mới chỉ bước đầu đề cập tới sandbox trong một số luật chuyên ngành như Luật Công nghiệp công nghệ số hay trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, các quy định hiện vẫn còn rời rạc, phân tán và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của một trung tâm tài chính quốc tế theo chuẩn mới. Trong bối cảnh đó, nhiều ý kiến đang đề xuất cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý chung về sandbox ở cấp quốc gia, thay vì tiếp cận theo hướng quy định riêng lẻ cho từng lĩnh vực.
“Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ tài chính mà còn phải là nơi thử nghiệm các mô hình quản trị mới, sản phẩm tài chính mới và công nghệ tài chính mới. Nếu không có cơ chế thử nghiệm đủ linh hoạt thì sẽ rất khó tạo ra sức cạnh tranh. Thiết kế sandbox luôn là bài toán cân bằng rất khó giữa đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro. Nếu quá thận trọng thì sẽ không hấp dẫn nhà đầu tư. Nhưng nếu mở quá nhanh, thiếu cơ chế kiểm soát thì rủi ro đối với hệ thống tài chính cũng rất lớn”, ông Hiển nói.
Từ góc độ chính sách, vấn đề đặt ra lúc này không còn là có nên triển khai sandbox hay không, mà là làm thế nào để cơ chế này vượt khỏi khuôn khổ thiết kế, trở thành một công cụ vận hành thực sự hiệu quả, đủ sức thu hút và giữ chân dòng vốn.
Sandbox phải là nơi quỹ đầu tư “vào là làm luôn”
Theo TS. Võ Trí Thành, điều quan trọng nhất lúc này là phải xác định rõ những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để sandbox thực sự phát huy vai trò là nơi thử nghiệm cho các mô hình tài chính mới.
Trong khi đó, PGS.TS. Trần Mạnh Huy, Uỷ viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, lại mang tới những lát cắt thực tiễn từ chính trải nghiệm làm việc với các nhà đầu tư quốc tế.
Theo ông Huy, sau gần 20 năm hoạt động trong lĩnh vực tài sản số, ông đã tiếp xúc với không ít quỹ đầu tư quan tâm tới VIFC-DN. Điểm chung là họ đều tỏ ra hào hứng khi nghe về mô hình trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng, nhưng phần lớn cuối cùng lại rút lui.
“Họ không sợ thắng hay thua trên thị trường. Điều họ sợ nhất là thể chế không rõ ràng. Rủi ro thị trường thì họ chấp nhận, nhưng rủi ro chính sách thì họ không chịu. Nỗi lo lớn nhất của nhà đầu tư là khả năng “đang làm giữa chừng thì luật thay đổi”, khiến toàn bộ kế hoạch đầu tư bị đảo lộn. Đây là nguyên nhân khiến nhiều dòng vốn quan tâm đến rồi lại rút lui.”, ông Huy nói.

Theo ông Huy, quy mô sản phẩm có thể thử nghiệm tại một trung tâm tài chính quốc tế lớn hơn rất nhiều so với những nhóm cốt lõi hiện đang được bàn tới. Nhưng dù sản phẩm đa dạng đến đâu, nút thắt cuối cùng vẫn quay về khung pháp lý và khả năng thử nghiệm thực chất.
Ví dụ, một doanh nghiệp muốn chuyển đổi từ USDT sang tiền Việt Nam thông qua cơ chế sandbox. Dù được chấp thuận thử nghiệm, nhưng địa điểm triển khai lại không phải nơi có nhu cầu sử dụng thực tế, khiến mô hình không thể vận hành hiệu quả và phải chịu lỗ.
“Không thể để sandbox trở thành câu chuyện ‘trên trải thảm, dưới rải chông’. Nhà đầu tư vào thử nghiệm mà không có điều kiện vận hành thực tế thì cuối cùng họ sẽ rút đi”, ông Huy cảnh báo.
Một ví dụ khác cho thấy rõ hơn độ trễ của thể chế, theo PGS.TS. Trần Mạnh Huy, là mô hình tài trợ xuất khẩu không kỳ hạn mà ông vừa kết nối với một quỹ đầu tư quốc tế tại Đà Nẵng. Theo mô hình này, doanh nghiệp xuất khẩu có thể nhận vốn ngay sau khi giao hàng, còn việc thu hồi công nợ từ bên mua nước ngoài sẽ do quỹ đảm nhận. Đây là giải pháp phù hợp với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), giúp giải quyết bài toán dòng tiền. Tuy nhiên, dù quỹ có quy mô tới 20 tỷ USD và sẵn sàng giải ngân, kế hoạch vẫn chưa thể triển khai vì thiếu cơ chế sandbox rõ ràng.
“Quỹ 20 tỷ USD đã ở đây rồi, nhưng khi họ hỏi sandbox ở đâu thì mình lại loay hoay chưa có câu trả lời”, ông Huy chia sẻ.
Vì thế, để khơi thông dòng vốn, điều quan trọng là phải xây dựng cơ chế sandbox hoàn chỉnh từ A đến Z, để nhà đầu tư “vào là làm luôn”, thay vì thử nghiệm trong tình trạng nửa vời.
“Đà Nẵng khó có thể tự giải quyết toàn bộ bài toán này mà cần sự điều phối mạnh hơn từ trung ươngTrung ương phải là nơi thiết kế và điều phối, Đà Nẵng là nơi vận hành. Nếu không làm rõ vai trò này thì rất khó đi nhanh”, ông Huy nói.
Quan trọng là tạo được niềm tin về một cuộc chơi đang bắt đầu
Theo TS Võ Trí Thành, những lo ngại về quy mô thị trường, tính đa dạng sản phẩm và đặc biệt là sự bất định chính sách đang làm giảm sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế. Điều quan trọng là phải nhìn vào cách thị trường và nhà đầu tư đánh giá Việt Nam, thay vì chỉ nhìn từ góc độ nội tại. Những lo ngại về quy mô thị trường, độ đa dạng sản phẩm và đặc biệt là sự bất định chính sách đang làm suy giảm sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế.
“Có rất nhiều yếu tố khiến sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam hiện chưa đủ mạnh. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải nhìn vào cách thị trường và nhà đầu tư đang nhìn mình như thế nào”, ông Thành nói.
Đầu bài các nhà đầu tư lớn đặt ra là, họ có thể chấp nhận một lộ trình dài, thậm chí chấp nhận những giới hạn ban đầu, miễn là họ nhìn thấy sự minh bạch và cam kết nhất quán. Họ chấp nhận thời gian, chấp nhận quãng đường và lộ trình để đi cùng mình. Điều quan trọng là phải tạo được niềm tin về một cuộc chơi đang bắt đầu.
Tiếp nối câu chuyện về niềm tin, TS. Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng cho rằng, để thị trường tin vào một cơ chế mới, trước hết chính bộ máy quản lý cũng phải hiểu và tin vào giá trị của nó.
Theo ông Hà, câu chuyện tài sản số hôm nay có nhiều điểm tương đồng với quyết định mở cửa Internet của Việt Nam vào năm 1997. Khi đó, không ít lo ngại từng được đặt ra về quản lý nội dung hay an ninh, nhưng việc chấp nhận mở cửa đã tạo nền tảng cho hệ sinh thái Internet phát triển mạnh mẽ như hiện nay.

“Tôi nghĩ câu chuyện đối với tài sản số tại VIFC-DN hiện nay cũng hoàn toàn tương tự. Kinh nghiệm thế giới cho thấy họ thường áp dụng cơ chế sandbox để vừa làm, vừa sai thì sửa, liên tục học hỏi. Điều này cũng giống như câu chuyện của Uber hay Grab cách đây hơn 10 năm vậy. Quan điểm của tôi là chúng ta cứ mở cửa trước rồi điều chỉnh sau. Tất nhiên, mở cửa ở đây là làm trong khuôn khổ có kiểm soát của sandbox, chứ không phải là cho phép hoạt động tràn lan”, TS Nguyễn Hoàng Hà chia sẻ.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/sandbox-va-bai-toan-niem-tin-khong-the-thu-nghiem-nua-voi-d146980.html.
