Áp lực chi phí thủ tục
Theo Cục Thống kê, chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, cả nước có 142.600 doanh nghiệp thành lập và quay trở lại hoạt động, tăng 27,6% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, có tới 129.300 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tương đương gần 26.000 doanh nghiệp mỗi tháng. Đáng chú ý, hơn 19.000 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.

Tại Hội nghị “Đối thoại SME 2026: Chính sách mở đường – Doanh nghiệp cất cánh”, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết, kết quả khảo sát thường niên của VCCI cho thấy khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay không còn chỉ là thị trường hay nguồn vốn. Thay vào đó, thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ pháp luật đang trở thành áp lực ngày càng lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo khảo sát, có tới 73,3% hộ kinh doanh cho rằng khó khăn pháp lý là áp lực lớn nhất. Bên cạnh đó, 71,2% doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin khách hàng để thực hiện xuất hóa đơn điện tử, trong khi tỷ lệ nợ thuế vẫn ở mức 10,2%, cao hơn mục tiêu đặt ra.
Đáng chú ý, hệ thống văn bản pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực thuế, liên tục thay đổi khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ không theo kịp. Điều này làm gia tăng chi phí tuân thủ, giảm khả năng dự báo và ảnh hưởng trực tiếp đến các kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
“Doanh nghiệp rất cần một môi trường chính sách ổn định để có thể xây dựng kế hoạch đầu tư và kinh doanh dài hạn”, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.
Theo đại diện VCCI, chính sách thuế thời gian qua đã có nhiều thay đổi tích cực. Lần đầu tiên, thuế thu nhập doanh nghiệp được thiết kế theo hướng phân tầng dựa trên quy mô doanh nghiệp.
Theo đó, doanh nghiệp có doanh thu từ 1-3 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 15%; doanh nghiệp có doanh thu từ trên 3-50 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 17%, thấp hơn mức thuế suất phổ thông 20%.
Đối với các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, đổi mới sáng tạo và năng lượng tái tạo, mức thuế suất ưu đãi 10% được áp dụng trong 15 năm.
Giai đoạn 2020-2025, tổng quy mô các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế đạt khoảng 900.000 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn và thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu.
Song theo ông Tuấn, điều doanh nghiệp cần không chỉ là mức thuế suất thấp hơn. Từ góc độ doanh nghiệp, điều quan trọng không chỉ là mức thuế suất hay các chính sách ưu đãi mà còn là tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SB LAW, cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khâu triển khai. Theo ông, thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo, việc áp dụng chính sách thiếu thống nhất giữa các cơ quan, trong khi tâm lý e ngại trách nhiệm của một bộ phận cán bộ khiến quá trình xử lý hồ sơ kéo dài.
Trong khi đó, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, một điểm nghẽn khác nằm ở tư duy xây dựng chính sách. Khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn chủ yếu được nhìn nhận như đối tượng quản lý, thay vì là đối tác phát triển. Bên cạnh đó, nhiều chính sách hỗ trợ vẫn tập trung vào doanh nghiệp quy mô lớn, khiến hiệu quả lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ còn hạn chế.
Thủ tục giảm nhưng nỗi lo vẫn còn
Những năm gần đây, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong ngành thuế đã đem lại nhiều kết quả tích cực.
Theo số liệu được công bố, 42% thủ tục đã được cắt giảm so với năm 2024; chi phí tuân thủ giảm 51%, tương đương hơn 4.400 tỷ đồng; thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn 27%.

Nhờ các nền tảng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ người nộp thuế, tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong năm 2025 đạt 92,3%. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn khá lớn.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, nhiều doanh nghiệp không có đủ nguồn lực để thường xuyên theo dõi, đọc và hiểu toàn bộ các quy định, nghị định mới được ban hành. Ngay cả việc tham gia góp ý chính sách cũng gặp nhiều khó khăn khi doanh nghiệp chưa hiểu đầy đủ các quy định hoặc chưa nhìn thấy tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của mình.
“Cơ quan quản lý cần xác định rõ chủ thể thực hiện là ai và thiết kế các cơ chế hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tiếp cận, hiểu và thực hiện đúng quy định. Đây là thay đổi rất quan trọng trong tư duy quản lý”, ông nhấn mạnh.
Trước những điểm nghẽn nêu trên, các chuyên gia cho rằng trọng tâm trong giai đoạn tới không phải là ban hành thêm chính sách, mà là nâng cao hiệu quả thực thi.
Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, ông Tuấn cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy “tăng yêu cầu tuân thủ” sang tư duy “hỗ trợ và giảm rủi ro” cho doanh nghiệp.
Theo ông Tuấn, doanh nghiệp luôn phải chấp nhận rủi ro thị trường. Tuy nhiên, nếu môi trường pháp lý cũng tiềm ẩn quá nhiều bất định thì chi phí và rủi ro sẽ tăng lên rất lớn. Chỉ một thay đổi chính sách đột ngột cũng có thể làm đảo lộn toàn bộ phương án sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp đã xây dựng trước đó.
“Cùng với việc chuyển sang hậu kiểm, cơ quan quản lý cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện và giảm thiểu rủi ro. Quan trọng nhất là giúp doanh nghiệp hiểu quy định, có khả năng tuân thủ và yên tâm hoạt động. Đó mới là nền tảng của một môi trường kinh doanh minh bạch, hiệu quả và bền vững”, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.
TS Nguyễn Đình Cung đề xuất cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình thực thi, đồng thời rà soát và loại bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp. Trong nhiều lĩnh vực, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm để tạo dư địa cho doanh nghiệp chủ động đổi mới. Theo ông, môi trường kinh doanh chỉ thực sự cải thiện khi trở nên minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Thanh Minh nhấn mạnh cần rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận. Thay vì ban hành thêm ưu đãi mới, cần tập trung thực thi hiệu quả các chính sách hiện có, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, chuyển đổi hộ kinh doanh, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị. Hiệu quả cải cách cần được đo bằng mức giảm chi phí thực tế cho doanh nghiệp, thể hiện qua thủ tục đơn giản hơn và thời gian xử lý nhanh hơn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong thực thi giữa các địa phương.
TS Nguyễn Quốc Việt cho rằng, giải pháp nền tảng là xây dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và có thể dự báo. Cùng với đó là tăng cường bảo vệ quyền tài sản và nâng cao hiệu quả hệ thống tư pháp, từ đó giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/dn-khong-thieu-uu-dai-chi-thieu-mot-moi-truong-phap-ly-on-dinh-d146801.html.
