Đầu tư công khoảng 1,65 triệu tỷ đồng
Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright cho biết, hiện tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm khoảng 33% GDP, trong đó đầu tư công chiếm khoảng 10% GDP, tương đương 28% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Nếu năm 2026, GDP thực tăng 10%, lạm phát ở mức 4%, quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành có thể vượt 14 triệu tỷ đồng.
“Chính phủ đang định hướng nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên khoảng 40% GDP. Với quy mô này, nhu cầu vốn sẽ vào khoảng 5,8 triệu tỷ đồng, trong đó riêng đầu tư công khoảng 1,65 triệu tỷ đồng”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn phân tích.

Còn theo báo cáo của Bộ Tài chính, với mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước gần 4,93 triệu tỷ đồng, tương đương 33-33,7% GDP. Con số này cao hơn khoảng 18,7% so với mức 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương 32,3% GDP của năm 2025. Dù thấp hơn kịch bản giả định nêu trên, đây vẫn là một nhu cầu nguồn lực rất lớn.
Trong khi đó, Quốc hội đã quyết nghị chi 1,12 triệu tỷ đồng ngân sách cho đầu tư phát triển năm 2026. Trong đó, vốn đầu tư công là 1,08 triệu tỷ đồng (bao gồm 430.000 tỷ đồng ngân sách trung ương và 650.226 tỷ đồng ngân sách địa phương), còn lại là chi đầu tư phát triển khác. Điều này cho thấy, để tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 4,93 triệu tỷ đồng, ngoài đầu tư công, cần huy động mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Thực tế, những năm gần đây, đầu tư tư nhân có xu hướng giảm, gây lo ngại cho nền kinh tế. Trong khi đó, đầu tư nước ngoài vẫn tăng trưởng, nhưng thiếu vắng các dự án đăng ký mới quy mô lớn.
“Đầu tư tư nhân chưa đạt kỳ vọng; công tác xúc tiến, thu hút các dự án FDI lớn còn nhiều vướng mắc”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng nêu rõ trong báo cáo của Chính phủ, đồng thời coi đây là một trong những thách thức lớn của nền kinh tế trong 2026 và những năm tiếp theo.
Trước đó, tại Hội thảo toàn cảnh thị trường vốn 2026, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực tài chính rất lớn, song quan trọng hơn là phải đa dạng hóa kênh huy động và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.
Hiệu quả đầu tư là vấn đề quan trọng nhất
Huy động và sử dụng vốn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Do đó, theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, bài toán then chốt không nằm ở quy mô vốn, mà ở hiệu quả sử dụng.
Ông Tuấn cho biết, hệ số ICOR (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) bình quân của Việt Nam sau đại dịch Covid-19 ở mức 5,85, khá cao so với nhiều nền kinh tế trong khu vực, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế. Nếu hệ số này không được cải thiện, để đạt tăng trưởng 10%, tỷ lệ đầu tư xã hội có thể phải nâng lên trên 47% GDP, tạo áp lực rất lớn cho nền kinh tế. Kịch bản khả thi hơn là duy trì đầu tư xã hội quanh mức 40% GDP, đồng thời quyết liệt cải thiện hiệu quả, đưa ICOR xuống dưới 5.

Một trong những vấn đề then chốt để nâng cao hiệu quả đầu tư công là đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Theo ông Tuấn, nhiều nghiên cứu cho thấy tốc độ và tính kịp thời của giải ngân có ý nghĩa không kém quy mô vốn.
“Giải ngân chậm không chỉ làm giảm hiệu quả kích cầu trong ngắn hạn, mà còn làm suy yếu khả năng chuyển hóa đầu tư công thành năng lực sản xuất mới trong trung hạn, nhất là khi các dự án hạ tầng lớn bị kéo dài tiến độ hoặc điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần”, ông Tuấn phân tích.
Dẫn số liệu cho thấy, đến ngày 18/12/2025, tỷ lệ giải ngân mới đạt 66,1% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, ông Tuấn nhắc lại thực trạng “đầu năm đủng đỉnh, cuối năm tất bật”. Theo ông, việc giải ngân dồn vào cuối năm khiến hiệu ứng lan tỏa tới tổng cầu trong năm tài khóa bị hạn chế, làm suy giảm tác động kích thích tăng trưởng của đầu tư công.
Cách nào nâng cao hiệu quả đầu tư công?
Để đầu tư công thực sự trở thành động lực tăng trưởng, TS. Lê Duy Bình cho rằng cần nhìn nhận rõ 3 nhóm vấn đề trọng tâm.
Thứ nhất, nền kinh tế đang đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng thiết yếu, hình thành cơ sở vật chất cho tăng trưởng và mở rộng không gian tăng trưởng. Hạ tầng về giao thông, công nghệ, viễn thông, đi kèm với hạ tầng năng lượng, hạ tầng nước, giáo dục, đào tạo, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản đóng vai trò vô cùng cần thiết cho việc chuyển dịch sang một mô hình tăng trưởng mới, dựa nhiều hơn vào công nghệ, chuyển đổi số, hay đổi mới sáng tạo.
Ngoài việc mở rộng không gian tăng trưởng, mỗi con đường được kéo dài, cảng biển, sân bay được xây dựng, nâng cấp sẽ đồng thời mở rộng thị trường, tăng khả năng kết nối của thị trường trong và ngoài nước, giảm chi phí về logistics… Đầu tư vào các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, môi trường không chỉ nâng cao chất lượng của tăng trưởng, đảm bảo người dân được hưởng lợi từ tăng trưởng mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quá trình tăng trưởng mới.

Thứ hai, đầu tư công phải kích thích đầu tư tư nhân, thông qua tạo dựng nền tảng cho đầu tư tư nhân, trở thành vốn mồi đầu tư tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích đầu tư tư nhân song hành cùng đầu tư công thông qua các hình thức hợp tác công tư và các hình thức khác. Theo các số liệu thống kê, đầu tư tư nhân tăng 1% sẽ mang lại giá trị tuyệt đối tương đương mới mức tăng 2,5% của đầu tư công và 3,5% của đầu tư nước ngoài FDI. Vai trò trụ cột của đầu tư công với kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển sắp tới thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như vậy.
Thứ ba, đầu tư công cần gắn chặt chẽ với các mục tiêu năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, cải thiện chỉ số ICOR và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nhằm biến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chính. Như vậy nền kinh tế mới có thể tránh được tình trạng tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động và để nền kinh tế Việt Nam chuyển dịch tăng trưởng theo chiều sâu, tránh nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.
Đầu tư công tăng về số lượng và tỷ trọng nhưng cũng phải đảm bảo hài hòa để không gây áp lực lớn cho cân đối tài khóa, tránh hiện tượng “lấn át” vốn tư nhân. Để tăng đầu tư công hay chi thường xuyên, sẽ buộc phải tăng thu ngân sách thường xuyên, tạo áp lực và thêm gánh nặng cho doanh nghiệp, người dân và có thể giảm đầu tư và cầu tiêu dùng. Như vậy, đầu tư công cần cân nhắc trong bối cảnh hài hòa với các yếu tố khác của tổng cầu và các yếu tố vĩ mô khác của nền kinh tế để phù hợp với bối cảnh, cấu trúc, mục tiêu của nền kinh tế Việt Nam.
Đầu tư công cần tập trung vào dự án lớn, trọng tâm, trọng điểm, những dự án xoay chuyển tình thế hoặc tạo ra những đột phá lớn về khoa học công nghệ, mở rộng không gian tăng trưởng, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai.
Về phần mình, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng, để nâng cao hiệu quả đầu tư công, cần thúc đẩy giải ngân ngay từ khâu lựa chọn dự án, chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn về vật liệu xây dựng và thủ tục liên quan.
Cũng theo ông Tuấn, cần chuyển trọng tâm quản lý từ ưu tiên tỷ lệ giải ngân sang đánh giá hiệu quả trong suốt vòng đời dự án. Việc quá chú trọng tỷ lệ giải ngân có thể dẫn tới lựa chọn dự án kém hiệu quả hoặc thúc đẩy tiến độ bằng mọi giá.
“Nếu gắn giải ngân với các mục tiêu đầu ra cụ thể như cải thiện hạ tầng chiến lược, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực sản xuất hay thu hút đầu tư tư nhân, thì đầu tư công mới thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng bền vững, thay vì chỉ là công cụ kích cầu ngắn hạn”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn nhấn mạnh.
Còn theo TS Nguyễn Đức Hiển, hiệu quả sử dụng vốn cần trở thành tiêu chí xuyên suốt trong cả đầu tư công và đầu tư tư nhân. Điều này đòi hỏi cải cách mạnh mẽ về thể chế, đồng thời nâng cao năng lực tổ chức thực thi và giám sát thị trường.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/can-165-trieu-ty-von-cong-trong-2026-hieu-qua-dau-tu-la-then-chot-d137903.html.
