Từ nạn đói 1945 đến vị thế cường quốc xuất khẩu nông sản, nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế và minh chứng sức sống bền bỉ suốt 80 năm. Nhân dịp này, Tạp chí VietnamFinance trò chuyện với GS.TS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam, để nhìn lại những dấu mốc và bài học quý giá cho tương lai.

– Theo ông, trong 80 năm qua, đâu là những thời điểm mang tính bước ngoặt nhất của nông nghiệp Việt Nam?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Nếu nhìn lại, có thể thấy chặng đường nông nghiệp Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn đầy thử thách và biến đổi sâu sắc. Trong chiến tranh, đất nước từng rơi vào thảm họa nạn đói năm 1945 một dấu ấn đau thương của lịch sử, trong khi đồng bằng sông Cửu Long vẫn xuất khẩu mỗi năm khoảng một triệu tấn lúa gạo. Thế nhưng, chỉ khoảng hơn một thập kỷ sau, vào những năm 1960, Việt Nam đã gây chú ý trên thế giới khi duy trì được khả năng tự túc lương thực ngay trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Thành quả đó đến từ việc miền Bắc thực hiện chính sách hợp tác xã thời chiến, còn miền Nam sớm tiếp cận và áp dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng Xanh.
Bước ngoặt tiếp theo là khi Nhà nước ban hành chính sách giao quyền sản xuất cho từng hộ nông dân. Chính sách này đã khắc phục được những hạn chế vốn tồn tại trong mô hình hợp tác xã thời chiến, đồng thời khơi dậy năng lực và trách nhiệm trực tiếp của từng nông hộ. Nhờ đó, Việt Nam đã tạo ra một cú nhảy vọt ngoạn mục: đến năm 1989, lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu gạo, trong bối cảnh lệnh cấm vận quốc tế vẫn chưa được gỡ bỏ hoàn toàn.
Từ đó đến nay, Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế là một trong những điểm sáng điển hình về bảo đảm an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp ở nhóm các quốc gia đang phát triển. Không dừng lại ở mức độ tự túc, chúng ta đã vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu, nằm trong tốp 15 thế giới. Đây thực sự là những thành tựu mang tính bước ngoặt, mở ra vị thế mới cho nền nông nghiệp và kinh tế Việt Nam.
– Đâu là những nguyên nhân quan trọng giúp nông nghiệp Việt Nam đạt được thành tựu vượt bậc trong 80 năm qua, thưa ông?”
GS.TS Bùi Chí Bửu: Theo tôi, có ba yếu tố nền tảng.
Thứ nhất là thủy lợi. Đến nay, 85% diện tích đất lúa của cả nước được tưới nhờ hệ thống thủy lợi; trong đó, 1,71 triệu ha có khả năng tiêu úng chủ động – con số cao nhất ASEAN. Chưa có nước đang phát triển nào đầu tư hệ thống thủy lợi quy mô và hiệu quả như Việt Nam. Đây là cơ sở vững chắc để sản xuất nông nghiệp ổn định, giảm rủi ro thiên tai và bảo đảm an ninh lương thực.
Thứ hai là giống và kỹ thuật canh tác. Cuộc cách mạng về giống lúa, cùng chương trình “ba giảm” (giảm mật độ sạ, giảm phân đạm, giảm thuốc trừ sâu) đã giúp nâng năng suất lúa bình quân tăng 2% mỗi năm. Trong khi đó, nhiều quốc gia khác đang rơi vào tình trạng “năng suất treo”, chỉ tăng dưới 1%/năm.
Thứ ba là chính sách đất đai. Việc giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân từ cuối thập niên 1980, đặc biệt trong những năm 1990, đã tạo ra bước ngoặt ngoạn mục. Chính sách này khơi dậy tinh thần tự chủ, gắn bó của nông dân với mảnh ruộng, giải phóng sức sản xuất.
Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã kiểu mới vẫn chưa được triển khai đồng bộ trên toàn quốc. Đây là hạn chế cần khắc phục nếu muốn nâng tầm cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.
– Ông có thể chia sẻ những đóng góp quan trọng của ngành trong việc ổn định và phát triển đất nước xứng đang là trụ đỡ của nền kinh tế qua nhiều giai đoạn khó khăn?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng, mỗi khi đất nước rơi vào khó khăn kinh tế – tài chính, vai trò “trụ đỡ” của nông nghiệp lại càng được thể hiện rõ rệt. Người ta thường nói “phi nông bất ổn”, tức là nếu thiếu nền tảng nông nghiệp thì khó có thể duy trì sự ổn định xã hội và kinh tế.
Trong những giai đoạn khó khăn nhất, chính nông nghiệp đã bảo đảm lương thực, thực phẩm cho gần 100 triệu dân, giúp duy trì ổn định đời sống xã hội. Không chỉ dừng lại ở đó, nông nghiệp còn đóng góp nguồn ngoại tệ quan trọng thông qua xuất khẩu, hỗ trợ cân bằng cán cân thương mại trong lúc các ngành công nghiệp và dịch vụ gặp khó khăn.
Bên cạnh giá trị vật chất, nông nghiệp còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài: tạo công ăn việc làm cho phần lớn dân số nông thôn, giữ vững an sinh xã hội, đồng thời góp phần ổn định chính trị trong những thời điểm đầy biến động. Chính nhờ trụ cột này mà Việt Nam có thể vượt qua nhiều giai đoạn thử thách và từng bước đi lên con đường phát triển bền vững.
– Trong 80 năm qua, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có nhiều thay đổi. Ông đánh giá như thế nào về những ngành hàng chủ lực giúp nông sản Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Có thể thấy rõ sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều ngành hàng. Trước hết là lúa gạo – xương sống của nông nghiệp Việt Nam. Chúng ta luôn nằm trong nhóm ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Thậm chí, xét về giá trị, có những năm Việt Nam đã vượt Thái Lan. Đặc biệt, việc xây dựng mô hình 1 triệu ha lúa chất lượng cao gắn với giảm phát thải khí nhà kính cho thấy cam kết phát triển bền vững.
Thủy sản, nhất là tôm và cá tra, cũng là điểm sáng. Nhờ vùng nguyên liệu rộng, công nghệ nuôi trồng và chế biến hiện đại, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản.
Rau quả chứng kiến bước đột phá từ sau năm 2015, khi được đầu tư mạnh vào chế biến và bảo quản, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường cao cấp.
Bên cạnh đó, điều và hồ tiêu duy trì vị thế số một thế giới suốt gần hai thập kỷ.
Cuối cùng, chế biến lâm sản – đặc biệt là nội thất gỗ trở thành hình ảnh bất ngờ với bạn bè quốc tế. Việt Nam đã vươn lên nhóm trung tâm chế biến gỗ và sản phẩm gỗ hàng đầu thế giới, không chỉ tạo giá trị xuất khẩu mà còn đi đầu trong xây dựng mô hình sinh thái bền vững, quản lý rừng gắn với giảm “dấu chân carbon”.
Chính sự đa dạng và phát triển đồng bộ của các ngành hàng này đã nâng tầm vị thế nông sản Việt trên bản đồ thế giới.
– Theo ông, làm sao để nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp, trong khi nhiều nông sản vẫn xuất khẩu ở dạng thô?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Muốn nâng cao giá trị gia tăng của nông sản Việt Nam, trước hết phải nhìn thẳng vào những điểm yếu còn tồn tại. Một trong những yếu tố then chốt là kinh tế hợp tác. Việc hợp tác hóa chưa được phát triển đúng mức khiến các hộ nông dân nhỏ lẻ khó tiếp cận thông tin thị trường, hạn chế trong việc ứng dụng khoa học – công nghệ, từ đó làm suy giảm năng lực cạnh tranh. Đây là một “nút thắt” cần được tháo gỡ nếu muốn nâng tầm giá trị của nông sản.
Sau đó là mức đầu tư vào nông nghiệp còn quá thấp. Trong giai đoạn 1995 – 2005, đầu tư vào nông nghiệp chỉ duy trì ở mức dưới 5% GDP, thậm chí năm 2005 chỉ đạt 3,1%. Chỉ đến khi có sự thay đổi chính sách vào năm 2017, dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực này mới tăng lên rõ rệt, kéo theo tăng trưởng nông nghiệp đạt 2,9% trong năm 2017 và 3,93% trong sáu tháng đầu năm 2018. Thực tế này cho thấy, muốn có bứt phá, Nhà nước và xã hội cần coi trọng hơn nữa vai trò của đầu tư công và tư vào nông nghiệp.
Cuối cùng là nguy cơ tập trung đất đai. Nếu đất đai rơi vào tay một số tập đoàn lớn, tình trạng độc quyền có thể xảy ra. Điều này không chỉ tạo ra sự thay đổi trong phương thức sản xuất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa – xã hội ở nông thôn. Khi nông dân mất đất, họ buộc phải rời bỏ ruộng đồng, dẫn đến nguy cơ đứt gãy mối liên kết cộng đồng và mất đi sinh kế bền vững. Đây là vấn đề cần được quản lý và điều tiết chặt chẽ để bảo đảm sự công bằng trong phát triển.
Bên cạnh đó, đầu tư cho khoa học – công nghệ từ phía doanh nghiệp Việt Nam còn quá hạn chế. Hiện nay, chi phí trung bình mà các doanh nghiệp dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ ở mức 0,05 – 0,1% doanh thu, thấp hơn rất nhiều so với Ấn Độ (5%) hay Hàn Quốc (10%). Nếu không có sự thay đổi mạnh mẽ, doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam sẽ rất khó nâng cao giá trị sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Cuối cùng, hướng đi tất yếu là phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, đặc biệt tại những vùng trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long. Muốn vậy, phải dựa trên nền tảng khoa học nông nghiệp hiện đại, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chọn tạo giống, bảo vệ thực vật, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và bảo vệ môi trường sinh thái. Đây chính là con đường để nông nghiệp Việt Nam không chỉ xuất khẩu nông sản thô, mà còn cung cấp những sản phẩm chế biến sâu, chất lượng cao, có thương hiệu và vị thế trên thị trường quốc tế.
– Trong những năm tới, theo ông, nông nghiệp Việt Nam cần phải làm gì để phát triển, bắt kịp xu thế toàn cầu?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Muốn nông nghiệp Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu, điều quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy phát triển, trong đó đầu tư cho khoa học – công nghệ nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Có thể nói, mức độ đầu tư hôm nay sẽ quyết định diện mạo của nông nghiệp ngày mai.
Hiện nay, nguồn vốn dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nông nghiệp mới chỉ khoảng 300 tỷ đồng mỗi năm – một con số quá thấp nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN. Chính vì vậy, việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ canh tác, chế biến và bảo quản là con đường tất yếu để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt.
Bên cạnh đó, hợp tác hóa nông nghiệp cần được triển khai quyết liệt và đồng bộ, giống như cách Nhà nước từng chỉ đạo xây dựng các công trình hạ tầng trọng điểm như đường cao tốc hay lưới điện cao thế. Chỉ khi nông dân liên kết lại với nhau trong các hợp tác xã kiểu mới, họ mới đủ sức tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, có khả năng thương lượng với doanh nghiệp, tiếp cận khoa học – công nghệ và giảm bớt những rủi ro trong thị trường ngày càng biến động.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng cực đoan, toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng, việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi, gắn với tiêu chuẩn xanh và bền vững, chính là hướng đi bắt buộc để nông nghiệp Việt Nam vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/phi-nong-bat-on-va-bai-hoc-80-nam-phat-trien-nong-nghiep-viet-nam-d131692.html.
