Phân cấp phải thực chất, có nguồn lực để gần dân, sát dân
Theo quan điểm của ông, đến thời điểm này, việc phân cấp – phân quyền giữa tỉnh và cấp xã trong bộ máy hành chính địa phương đã thực sự rõ ràng, dứt điểm chưa?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, về mặt quy định pháp luật, chúng ta đã bước đầu làm rõ được chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền, trong đó có cấp tỉnh và cấp xã. Trên giấy tờ, tôi cho rằng đã khá rõ ràng. Các chức năng từ cấp huyện được phân tách rõ: phần nào chuyển lên tỉnh, phần nào phân cấp xuống xã.
Tuy nhiên, bộ máy mới bắt đầu vận hành từ đầu tháng 7, những địa phương nào đã chuẩn bị kỹ lưỡng thì bộ máy sẽ vận hành khá suôn sẻ. Nhưng ở những nơi chưa có sự chuẩn bị đầy đủ thì chắc chắn sẽ có độ trễ nhất định, có thể xảy ra tình trạng chệch choạc trong những bước đầu triển khai.
Thực tế, cái khó sẽ buộc chúng ta phải tìm ra cái khôn. Với yêu cầu mới, chắc chắn sẽ có cách làm mới. Những lúng túng ban đầu là điều dễ hiểu vì chưa có tiền lệ nhưng tôi tin là khi có sự đồng lòng và tư duy đổi mới, sáng tạo, chúng ta sẽ tìm được hướng đi phù hợp.

Tôi theo dõi câu chuyện phân cấp – phân quyền từ gần 30 năm trước, nên có thể khẳng định: bây giờ chỉ là giai đoạn hiện thực hóa những ý tưởng đã được đặt ra từ rất lâu. Khó khăn chủ yếu nằm ở chỗ chức năng mới chưa “chạy” về đúng nơi như: lĩnh vực đất đai, địa chính, giải quyết tranh chấp… đang trong quá trình phân chia trách nhiệm rõ ràng.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật cũng đang trong quá trình hoàn thiện, nên không thể kỳ vọng bộ máy vận hành hoàn hảo ngay lập tức. Cùng với việc hoàn thiện bộ máy, chúng ta cũng phải đồng thời nâng cao chất lượng cán bộ – một thách thức không nhỏ khi yêu cầu kỹ năng số, kỹ năng xử lý công việc trên nền tảng công nghệ, bảo mật thông tin… đang ngày càng cao. Trong khi đó, nhiều đạo luật mới chỉ vừa được ban hành.
Dĩ nhiên, những điều đó có thể gây ra sự lúng túng ban đầu, nhưng tôi tin chắc rằng các vướng mắc này sẽ dần được tháo gỡ và bộ máy mới sẽ tạo được một nền tảng vững chắc cho sự phát triển dài hạn.
Theo ông, khi tăng phân cấp cho cấp xã – đặc biệt sau sáp nhập tỉnh thì nguồn lực liệu đã được tính toán đủ và phân bổ phù hợp chưa? Nếu chưa, nguy cơ gì sẽ xảy ra?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Thực tế cho thấy, ở một số địa phương, việc chuẩn bị nguồn lực cho cấp xã – bao gồm tổ chức bộ máy, nhân lực và điều kiện thực thi vẫn còn chưa đồng đều. Những nơi có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước thì quá trình vận hành sau sáp nhập nhìn chung khá suôn sẻ. Nhưng cũng có địa phương còn lúng túng trong giai đoạn đầu, do việc sắp xếp tổ chức và bố trí cán bộ chưa thực sự theo kịp tiến độ sáp nhập.
Một số chức năng mới được phân cấp xuống cấp xã nhất là trong các lĩnh vực như đất đai, giải quyết tranh chấp, quản lý hồ sơ hành chính đòi hỏi cán bộ phải có đủ kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hiện. Nếu thiếu sự hỗ trợ kịp thời về đào tạo hoặc chưa có hướng dẫn cụ thể, thì việc triển khai ban đầu có thể gặp khó khăn.
Ngoài ra, các yêu cầu mới cũng đặt ra thách thức nhất định về kỹ năng công nghệ, xử lý dữ liệu và bảo mật thông tin. Đội ngũ cán bộ cấp xã vốn đã khá mỏng, nay cần thêm thời gian để làm quen với những nhiệm vụ mới. Một số đạo luật, quy định cũng chỉ mới ban hành gần đây, nên việc tiếp cận và vận dụng trong thực tiễn chắc chắn cần có thêm thời gian.
Tôi nghĩ, nếu chúng ta kịp thời điều chỉnh, hỗ trợ từ cấp tỉnh và trung ương về hướng dẫn, đào tạo, cũng như có chính sách phù hợp để tăng cường năng lực cho cấp xã, thì những khó khăn ban đầu này hoàn toàn có thể vượt qua. Đây cũng là cơ hội để các địa phương tìm ra cách làm linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với điều kiện thực tế.
Theo ông, khi sáp nhập tỉnh và tổ chức lại chính quyền 2 cấp, cần thiết kế lại hệ thống quản trị địa phương như thế nào để vừa bảo đảm quản lý hiệu quả, vừa gần dân, sát dân?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần phát triển một mô hình quản trị địa phương mới phù hợp với bối cảnh tinh giản bộ máy và mở rộng phạm vi địa giới hành chính. Khi sáp nhập tỉnh, quy mô đơn vị hành chính trở nên lớn hơn, tương đương với hai, thậm chí ba tỉnh cũ gộp lại. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một bộ máy tinh gọn hơn, vận hành với số lượng nhân sự ít hơn nhưng khối lượng công việc lại nhiều hơn, chi phí thấp hơn và tốc độ xử lý phải nhanh hơn.
Muốn vậy, quản trị địa phương phải chuyển sang một mô hình dựa mạnh vào công nghệ. Chúng ta cần số hóa tối đa quy trình làm việc, giảm dần các thao tác thủ công và ưu tiên tự động hóa các công việc lặp đi lặp lại. Những tác vụ hành chính đơn giản như đóng dấu, xử lý biểu mẫu, quản lý hồ sơ… hoàn toàn có thể ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc hệ thống số để thay thế con người.
Đây là thời điểm để thiết kế lại toàn bộ hệ thống hành chính địa phương dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, sao cho vừa tối ưu hóa nhân lực, vừa đảm bảo xử lý công việc với quy mô và tốc độ cao nhất. Quan trọng hơn, mô hình này phải hướng tới phục vụ người dân một cách triệt để, hiệu quả và thân thiện.
Để làm được điều đó, chúng ta cần xây dựng một số nguyên lý mới trong quản trị địa phương. Trước hết, công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo – không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là nền tảng vận hành chính, với mức độ ứng dụng có thể lên đến 70–90%. Thứ hai, cán bộ, công chức phải được đào tạo để sử dụng thành thạo công nghệ, làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả cao. Thứ ba, người dân cũng cần trở thành “chủ thể số” – tức là có thể dễ dàng tiếp cận, hiểu và sử dụng các dịch vụ công trực tuyến, được hỗ trợ để nâng cao năng lực số thông qua các chương trình phổ cập đơn giản, dễ tiếp cận.
Mô hình quản trị mới đòi hỏi phải giảm tầng nấc hành chính theo chiều dọc, tăng cường phối hợp theo chiều ngang, và đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ – những người trực tiếp xử lý công việc, tiếp xúc với người dân, giải quyết các thủ tục. Họ không chỉ cần năng lực chuyên môn và công nghệ, mà còn phải có tinh thần phục vụ tận tâm, thân thiện và đặt lợi ích của người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Phân quyền hiệu quả để tạo động lực phát triển
Theo ông, việc phân quyền – phân cấp như thế nào mới thực sự tạo thuận lợi trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đảm bảo hỗ trợ doanh nghiệp tăng trưởng bền vững tại địa phương?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng, trước hết cần có một cơ chế quản trị linh hoạt và hiệu quả hơn. Cụ thể, cần tổ chức rõ ràng các đầu mối phụ trách như: cơ quan quản lý dự án, cơ quan cấp phép, cơ quan điều hành… để doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng, minh bạch và nhanh chóng hơn trong quá trình triển khai đầu tư hay vận hành sản xuất – kinh doanh.
Điều quan trọng là mô hình phân quyền đó phải mở ra cơ hội để doanh nghiệp được đồng hành cùng chính quyền trong cả hoạch định và thực thi. Doanh nghiệp nên tham gia vào việc xây dựng quy hoạch phát triển địa phương, góp ý cho các sáng kiến quản lý, và đặc biệt là chia sẻ các nền tảng công nghệ giúp đẩy nhanh tiến trình công bố thông tin, minh bạch hóa chính sách và quản trị hiệu quả hơn.
Doanh nghiệp không chỉ là người thụ hưởng chính sách, mà còn là đối tác góp phần hoàn thiện bộ máy quản lý. Họ có thể chỉ ra những điểm bất hợp lý, những trùng lặp hay lãng phí trong hệ thống hiện tại, từ đó cùng xây dựng một mô hình quản trị địa phương thông minh – dựa trên nguyên tắc đồng hành, hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro và cùng phát triển.
Đây cũng là lúc doanh nghiệp cần thay đổi tư duy và văn hóa vận hành: giảm bớt những lớp trung gian, thủ tục phiền hà; tăng tính chủ động, sáng tạo; thúc đẩy tinh thần đổi mới trong nội bộ và cả trong mối quan hệ với chính quyền. Mỗi doanh nghiệp, cùng với nhà quản lý và cộng đồng, sẽ tạo nên một mạng lưới đồng kiến tạo, đồng thực thi và đồng hưởng lợi từ một mô hình quản trị hiện đại và hiệu quả.
Chỉ khi mô hình phân quyền – phân cấp được thiết kế theo hướng mở, lấy hiệu quả phục vụ làm trung tâm, thì mới thực sự tạo được đột phá trong phát triển kinh tế địa phương và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển bền vững.
Theo ông, mô hình chính quyền 2 cấp (tỉnh – huyện) sau sáp nhập sẽ ảnh hưởng như thế nào đến năng lực điều hành phát triển kinh tế; đặc biệt là thu hút đầu tư, quy hoạch vùng và liên kết hạ tầng?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng, mô hình chính quyền 2 cấp nếu được tổ chức hiệu quả sẽ mở ra dư địa lớn để phát triển kinh tế – xã hội. Trước hết, không gian phát triển rộng hơn đồng nghĩa với việc có thể thiết kế các chương trình thu hút đầu tư quy mô lớn hơn, cả trong nước và quốc tế. Các địa phương cũng cần chủ động xây dựng danh mục dự án trọng điểm, đi kèm với những sáng kiến về cơ chế, chính sách thật sự đặc thù để khơi thông nguồn lực.
Về đầu tư công, cần tập trung vào các hạ tầng chiến lược như giao thông, logistics, hạ tầng thông tin, sân bay – cảng biển, khu công nghệ cao, trung tâm thương mại, đô thị thông minh… Đây là những yếu tố nền tảng để hình thành cực tăng trưởng mới sau sáp nhập.
Bên cạnh đó, mô hình tỉnh lớn còn tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là các “đại bàng” công nghiệp công nghệ cao, nhờ vào quy mô dân số, thị trường và quỹ đất được mở rộng.
Tôi cũng nghĩ đến vai trò của các kênh đầu tư tài chính hiện đại. Ví dụ, một số địa phương hoàn toàn có thể nghiên cứu phát hành trái phiếu đô thị để phát triển hạ tầng, văn hóa, du lịch – như “trái phiếu Vịnh Hạ Long” hay “trái phiếu Kinh đô Huế”. Nếu làm tốt, đây không chỉ là công cụ huy động vốn mà còn góp phần xây dựng hình ảnh, tạo sự gắn kết với người dân và du khách.
Quan trọng hơn, các địa phương cần tận dụng cơ hội này để phát triển thị trường vốn, khuyến khích đầu tư gián tiếp, nâng cao năng lực tài chính công.
Tóm lại, mô hình chính quyền 2 cấp không chỉ là sắp xếp lại bộ máy, mà phải là bước đi chiến lược để nâng tầm năng lực điều hành kinh tế – nếu được thiết kế đúng và trao quyền hợp lý.
Xin cảm ơn ông!
Nguồn : https://vietnamfinance.vn/mo-hinh-chinh-quyen-hai-cap-nguyen-tac-quan-tri-phuc-vu-phai-la-kim-chi-nam-d130585.html.
