‘Đòn bẩy mềm’ trong chiến lược giảm nghèo bền vững ở Quảng Ngãi

by HDgroup
21 views

“Cầu nối” mở đường cho sinh kế bền vững

Giảm nghèo bền vững không chỉ là tạo sinh kế hay hỗ trợ đầu vào sản xuất. Một trong những “cầu nối” then chốt chính là thông tin. Bởi thiếu thông tin, người dân rất dễ bỏ lỡ cơ hội tiếp cận chính sách, nguồn lực và các mô hình sản xuất hiệu quả. Đây là những yếu tố quyết định để thoát nghèo một cách bền vững.

Thực tiễn tại Quảng Ngãi cho thấy, dù hệ thống chính sách giảm nghèo ngày càng đầy đủ, song khoảng cách giữa chính sách và người thụ hưởng vẫn tồn tại, đặc biệt ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh đó, việc đưa thông tin đến đúng người, đúng cách, đúng thời điểm trở thành yêu cầu cấp thiết.

Nằm cách trung tâm tỉnh gần 300km, xã Ngọc Linh là xã miền núi với hơn 97% dân cư là đồng bào Xơ Đăng, sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Điều kiện kinh tế còn nhiều hạn chế, hạ tầng công nghệ thông tin chưa hoàn thiện khiến việc tiếp cận các thông tin về chính sách, vốn vay, hỗ trợ kỹ thuật hay thị trường trở thành thách thức lớn, nhất là với các hộ nghèo.

Nhờ được tiếp cận thông tin, nhiều hộ dân ở Quảng Ngãi đã vươn lên thoát nghèo. 

Không ít hộ dân tại Ngọc Linh không có điện thoại thông minh hoặc không đủ điều kiện đầu tư thiết bị kết nối Internet. Sóng viễn thông chập chờn, đường truyền yếu khiến các kênh truyền thông hiện đại khó tiếp cận đến từng hộ gia đình.

Trước thực tế đó, xã Ngọc Linh đã chủ động thành lập một tổ công nghệ số cấp xã và 22 tổ công nghệ số cộng đồng tại các thôn. Đây được xem là lực lượng nòng cốt trong việc đưa công nghệ số và thông tin chính sách đến gần hơn với người dân. Không chỉ hỗ trợ cài đặt VNeID, tạo tài khoản định danh điện tử, các tổ công nghệ số còn trực tiếp tuyên truyền chính sách mới, hướng dẫn bà con tiếp cận thông tin trên các nền tảng số của địa phương, qua đó kịp thời nắm bắt các chương trình hỗ trợ, đặc biệt là chính sách tín dụng ưu đãi và phát triển sinh kế.

Hiệu quả của “cầu nối thông tin” được thể hiện rõ nét qua câu chuyện của chị Y Liên, ở thôn Làng Mới. Gắn bó nhiều năm với cây sâm Ngọc Linh, một loại dược liệu quý nhưng đòi hỏi vốn lớn và kiến thức canh tác bài bản, trước đây, chị Y Liên chủ yếu dựa vào các khoản vay nhỏ từ người quen. Việc thiếu thông tin về các kênh tín dụng ưu đãi khiến chị gặp nhiều hạn chế trong mở rộng diện tích trồng sâm.

Từ khi được các tổ công nghệ số hướng dẫn tiếp cận các kênh thông tin chính thống, chị Y Liên biết đến nhiều nguồn vốn ưu đãi, chính sách hỗ trợ phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, vườn sâm được đầu tư bài bản hơn, quy mô sản xuất từng bước mở rộng.

“Nhờ cây sâm Ngọc Linh, sau 10 năm, tôi đã có điều kiện mua ô tô, làm nhà, lo cho bố mẹ và các em trong gia đình. So với trước đây, khi nhà cửa còn tạm bợ, cuộc sống giờ đã ổn định hơn rất nhiều”, chị Y Liên chia sẻ.

Không chỉ ở Ngọc Linh, tại nhiều địa phương khác của Quảng Ngãi, việc kết nối người dân với các chương trình hỗ trợ thông qua thông tin đang mang lại những chuyển biến tích cực, mở ra sinh kế bền vững cho nhiều hộ gia đình.

Anh A Tuấn, (xã Gia Ly) cho biết, nhờ nắm bắt thông tin về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, anh có thêm nguồn thu ổn định để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ nguồn vốn ban đầu năm 2023, anh mạnh dạn thử nghiệm mô hình nuôi thỏ lấy thịt. Chỉ với một cặp giống, đến nay đàn thỏ đã phát triển đáng kể, mỗi lứa xuất bán mang lại lợi nhuận từ 10 -15 triệu đồng.

Theo thống kê của xã Gia Ly, hiện toàn xã có 340ha rừng giao cho 44 hộ dân quản lý, với tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng khoảng 300 triệu đồng mỗi năm. Ngoài ra, còn 156ha rừng do doanh nghiệp phối hợp giao khoán cho hộ dân và cộng đồng mang lại hơn 140 triệu đồng mỗi năm. Nguồn lực này được người dân sử dụng để mua con giống, trang trải chi phí học tập cho con em và cải thiện đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Bên cạnh các mô hình dựa vào tài nguyên rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng đang mở ra hướng đi mới cho nhiều hộ dân miền núi. Ông A Lăng, người dân ở xã Rời Kơi cho biết, trước đây gia đình ông có hơn 1ha đất trồng bời lời nhưng hiệu quả kinh tế thấp, cuộc sống luôn trong cảnh thiếu thốn.

Từ khi được chính quyền địa phương hướng dẫn chuyển đổi sang trồng sầu riêng, mắc ca, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật canh tác và lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm, vườn cây của ông phát triển xanh tốt, cho hiệu quả rõ rệt.

“Trước kia, kinh tế gia đình luôn rơi vào cảnh khó khăn. Nhưng nay cuộc sống đã khấm khá hơn, không chỉ đủ ăn mà còn có hy vọng làm giàu từ cây trồng chủ lực”, ông A Lăng phấn khởi chia sẻ.

Khi chính sách đi vào thực tế

Giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi đã triển khai đồng bộ các hoạt động truyền thông thuộc Dự án truyền thông và giảm nghèo về thông tin, coi đây là một cấu phần quan trọng trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững.

Cùng với hệ thống truyền thông đại chúng, các địa phương trong tỉnh chú trọng xây dựng lực lượng tuyên truyền cơ sở, các tổ tư vấn cộng đồng là những “cánh tay nối dài” của chính sách, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa Nhà nước và người dân. Chính từ lực lượng này, thông tin được truyền tải bằng ngôn ngữ, hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Các xã miền núi Quảng Ngãi đang chuyển mình nhờ Chương trình Mục tiêu quốc gia.

Một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả của công tác truyền thông giảm nghèo tại Quảng Ngãi là đầu tư cho con người. Tỉnh đã tổ chức 10 lớp tập huấn với hơn 2.300 lượt cán bộ xã, trang bị kỹ năng làm truyền thông cơ sở, vận hành thiết bị và xây dựng bản tin phù hợp với người dân ít tiếp xúc công nghệ. Các lớp tập huấn không chỉ cung cấp kỹ thuật nghiệp vụ mà còn giúp cán bộ hiểu cách truyền đạt thông tin trực quan, gần gũi, mang lại hiệu quả cao.

Trên phương diện truyền thông đại chúng, Chương trình được triển khai mạnh mẽ. Các sản phẩm truyền thông đều hướng đến mục tiêu chung là đưa thông tin giảm nghèo đến từng nhóm đối tượng, theo ngôn ngữ và hình thức mà họ dễ tiếp cận nhất.

Kết quả bước đầu cho thấy, truyền thông đã góp phần tạo chuyển biến về nhận thức. Người dân không còn thụ động “chờ hỗ trợ” mà đã chủ động tìm hiểu chính sách, khai thác nguồn lực, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả. Điều này thể hiện rõ qua các chỉ số giảm nghèo của tỉnh.

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ nghèo đa chiều toàn tỉnh Quảng Ngãi đến cuối năm 2024 là 7,93%, tương ứng 42.568 hộ nghèo. Theo kế hoạch, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh sẽ giảm từ 4,27% xuống còn 1,86%, dự kiến đạt chỉ tiêu đề ra.

Hướng tới giai đoạn 2026–2030, Quảng Ngãi tiếp tục xác định giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài.

Tỉnh tập trung thực hiện đồng bộ các chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; hỗ trợ người dân tiếp cận hiệu quả các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… trên cơ sở lồng ghép với các nội dung thành phần liên quan của Chương trình. Song song đó là xây dựng, phát triển và nhân rộng các mô hình, dự án giảm nghèo gắn với phát triển sản xuất, tạo việc làm và sinh kế bền vững.

Cùng với nguồn lực tài chính, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục được chú trọng. Việc quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình được yêu cầu theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, đi đôi với kiểm tra, giám sát công khai, minh bạch và sát thực tiễn.

Đặc biệt, truyền thông tiếp tục được xác định là “mũi nhọn mềm”, với việc lan tỏa các gương điển hình, mô hình hiệu quả, chính sách mới phù hợp từng nhóm đối tượng. Khi người dân ở những vùng khó tiếp cận nhất được trang bị thông tin, hiểu biết và kỹ năng cần thiết, họ không chỉ thoát nghèo mà còn có thể vươn lên mạnh mẽ hơn.

Nguồn : https://vietnamfinance.vn/don-bay-mem-trong-chien-luoc-giam-ngheo-ben-vung-o-quang-ngai-d137481.html.

You may also like